Saturday, May 3, 2014


Con mắt thứ ba  Vũ trụ toàn ảnh (tiếp)


SAO MAI:

Chị HHN à, hôm trước chị nói rằng nếu con người tu thiền định thì sẽ có một khả năng siêu phàm, các giác quan nhạy cảm. Với vấn đề mở nhãn thì chị nói rằng nếu có con mắt thứ 3, thì không gian và thời gian là một; chết và sống cũng như nhau. Chị có thể giải thích thêm về vấn đề này không?


HHN:

Chúng ta hãy  nói  về vấn đề này trên phương diện vật lý nhé? Vật lý hiện đại rất quan tâm tới lý thuyết Hologram, nó còn gọi là vũ trụ toàn ảnh hay thông tin toàn bộ. Nhiều khoa học gia đã gọi lý thuyết Hologram là biên giới tận cùng của kiến thức (Latest frontier of knowledge). Lý thuyết này có thể mở ra một kỷ nguyên khoa học mới, thống nhất nhiều hiện tượng. Người ta cho rằng vũ trụ là thông tin toàn bộ. Giữa những thực thể trong không gian và thời gian có sự kết nối nội tại với nhau  (Interconnectedness).

SAO MAI:

Chị có thể cho biết Vũ trụ toàn ảnh (hologram) là gì không?

HHN:

Nhà vật lý David Bohm đã đưa ra một ví dụ sau: Hãy lấy một con cá vàng đang bơi trong bể cá cảnh, và tưởng tượng rằng bạn chưa bao giờ thấy một cảnh tượng như vậy. Mọi nhận thức của bạn chỉ có được nhờ hai camera tivi A & B quét từ hai góc khác nhau. Khi nhìn vào hai màn hình tivi, bạn lầm tưởng đang quan sát hai con cá vàng. Song theo dõi một lúc bạn thấy rằng có mối liên hệ đồng bộ giữa hai con cá này. Như vậy hai hình ảnh trên hai màn hình chỉ là hai biểu hiện của một thực thể ở mức sâu hơn. Trong trường hợp này, thực thể đó là bể cá cảnh với cá vàng bên trong.  



Nguyên lý toàn ảnh có thể dẫn đến một triết học sâu sắc. David Bohm quan niệm rằng thực tại mà chúng ta quan sát được hằng ngày chỉ là một phần của một thông tin toàn bộ (hologram).

Dường như thực tại có hai mức: Một mức ở sâu hơn gọi là mức tiềm ẩn (cuộn lại) / implicate (enfolded) và một mức gọi là mức tường minh (mở ra) / explicate (unfolded).


Một phim toàn ảnh (hologram) và hình ảnh nó tạo ra là ví dụ của hai mức tiềm ẩntường minh. Cuộn phim thuộc mức tiềm ẩn vì hình ảnh được mã hóa trong các dạng giao thoa chứa trong phim; còn hình ảnh chiếu ra thuộc mức tường minh vì các giao thoa mã hóa được mở ra (unfolded).

David Bohm cho rằng mọi vật trên vũ trụ đều là những phần tử của một Continium (tính chất liên tục). Do đó, sống và không sống (living, non living) là vô nghĩa. Vì mỗi phần của một bức toàn ảnh (hologram) đều chứa thông tin của toàn ảnh cho nên mỗi bộ phận của vũ trụ đều chứa thông tin của toàn vũ trụ.

SAO MAI:

Em cũng có nghe hình như đâu đó nói rằng bộ não chúng ta cũng là một toàn ảnh.

HHN:

Đúng vậy, em à.  Trong những năm 1940, người ta tin rằng trí nhớ nằm trong não bộ. Mỗi dấu vết trí nhớ gọi là một engram, tuy chẳng ai biết engram được cấu tạo bằng gì. Vào giữa năm 1960 khi Pribram đọc một bài báo trên Scientific American về cấu tạo của một Hologram thì ông hiểu rằng: Não bộ chính là một toàn ảnh (hologram).

Trí nhớ được xem như là những xung lượng thần kinh đan chéo chằng chịt trong não bộ tương tự như những hình ảnh giao thoa tia Laser trên một diện tích của hologram. Không riêng gì đối với trí nhớ mà đối với các khả năng khác của con người như thị giác và thính giác, người ta cũng quan sát được các tính chất toàn ảnh (nhà nghiên cứu Hugo Zucarelli phát triển kỹ thuật gọi là âm học toàn ảnh - holophonic sound, sử dụng tính toàn ảnh của thính giác).

Nếu như một phần của hologram có khả năng tái tạo toàn ảnh của một vật thì mỗi phần của não bộ cũng chứa tất cả thông tin để phục hồi toàn bộ trí nhớ.

Các lý thuyết của Bohm và Pribram đã tạo nên một quan điểm sâu sắc về nhận thức luận đối với thế giới khách quan: Toàn bộ vũ trụ là một toàn ảnh (the entire universe is a hologram). Bộ não là một hologram cuộn vào trong vũ trụ toàn ảnh (the brain is a hologram enfolded in a holographic universe).
Năm 1982 Alain Aspect (Đại học Paris) đã thực hiện một thí nghiệm có thể nói là quan trọng nhất trong thế kỷ 20 -  chứng minh rằng trong những điều kiện nhất định, các hạt như Electron có thể tức thời liên lạc với nhau bất kể khoảng cách giữa chúng là bao nhiêu.  Về vận tốc, thì các tài liệu cho các thông tin khác nhau khi so sánh với vận tốc ánh sáng. Và không phải các Electron đã truyền thông tin cho nhau theo một cách bí ẩn nào đó, mà là sự phân cách giữa chúng chỉ là một ảo tưởng. Tại một mức sâu các hạt đó không là những thực thể riêng lẻ mà chỉ là những biểu hiện của một thực thể cơ bản.

Rộng hơn nữa, mọi thành phần của vũ trụ ở một mức sâu đều liên thông với nhau(interconnectedness); và ngược lại vũ trụ hiện hữu trong mỗi bộ phận (“whole in every part”). Một ví dụ của mức sâu đó của thực tại chính là cái bể cá cảnh cùng con cá vàng trong ví dụ nói ở trên đây. Theo Bohm, ta thấy được những thực thể riêng biệt chỉ vì ta chỉ nhìn được một khía cạnh của thực tại.

Các Electron của nguyên tử Carbon trong não bộ con người liên thông với các nguyên tử của mỗi đám mây lơ lửng trên nền trời, của con Bướm đang vỗ cánh trong cánh rừng xa xôi, của đóa hoa Hướng Dương rung rinh trong gió và của những tinh tú lấp lánh trong trời đêm. Vì sự liên thông phổ quát này mà trong vũ trụ toàn ảnh, thậm chí không gian và thời gian không còn là cơ bản nữa! Những khái niệm như tọa độ và thời điểm sẽ không còn ý nghĩa trong một vũ trụ mà không vật gì được tách rời với vật khác trong không gian và thời gian.

Tư tưởng trên dường như trùng hợp với công thức Vô thường, Vô ngã của truyền thống Phật Giáo.

Tại mức sâu hơn này, thực tại là một siêu Hologram. Trong đó Quá khứ, Hiện tại và Tương lai quyện vào nhau và tồn tại đồng thời. Tại mức sâu siêu Hologram, nếu có kỹ thuật và phương pháp phù hợp, thì ta có thể làm xuất hiện những gì ta muốn; chẳng hạn như chúng ta có thể làm tái hiện được những cảnh tượng từ quá khứ xa xôi.

Người ta thống nhất tư tưởng của các nhà phát minh thành một hệ mẫu toàn ảnh (Holographic Paradigm). Căn cứ vào hệ mẫu này, người ta có thể hiểu được các vấn đề: Tiên tri, Thần giao cách cảm …

Với lý thuyết vũ trụ song song, người ta tin là có một cái tôi Alter Ego, một bản sao của cái tôi, sống ở một thiên hà cách xa ta. Tuy có vẻ là xa, nhưng bản sao này là hiện thực.

Ngày hôm nay, dường như khoa học Phật Giáo và khoa học hiện đại tự tiến gần tới nhau và xóa mờ ít nhiều biên giới. Ai có thể đoán trước rằng hai bộ môn này trong tương lai lại có tiếng nói chung. Thật vậy, Thiền Định của Phật Giáo nhằm đạt được một trong những mục đích quan trọng là sự Minh Triết. Khoa học hiện đại cũng là tinh hoa, đỉnh cao của trí tuệ con người luôn tìm cách cải tiến. Tuy nhiên, xét về mặt phương tiện thì công cụ của hai bộ môn nói trên là hoàn toàn khác biệt.

Do đó, nếu Sao Mai muốn mở được con mắt thứ 3 và nhìn được bằng Đệ Tam Nhãn này thì em  phải tu Thiền Định thôi. Ðợi đến khi nào khoa học phát minh ra một loại tân dược, chỉ có uống một liều duy nhất, như kiểu thuốc trị giun sán, mà mở được con mắt thứ ba thì lúc đó tính sau. Chỉ e rằng, nếu thuốc này mà có mặt trên thị trường, thì sẽ mắc tiền lắm, chị và em sẽ mua không nổi đâu.

SAO MAI:

Ôi! Em chỉ còn cách nghe theo lời chị thôi, chứ biết làm sao nữa bây giờ. Em chán cuốn sách của chị rồi. Nếu chị  xem được chừng nào em lấy chồng thì báo cho em biết với nhé.




Con mắt thứ ba  Vũ trụ toàn ảnh


To see a World in a Grain of Sand,           
And a Heaven in a Wild Flower,               
Hold Infinity in the palm of your hand,     
And Eternity in an hour.                        

Để thấy Vũ trụ trong Hạt cát,                                       
Và Bầu trời trong cánh hoa dại,                           
Hãy nắm bắt Vô cùng trong bàn tay,
Và Thiên thu trong khoảnh khắc.
 (William Blake 1757-1827)

Trời còn rất sớm, những giọt sương còn đọng lại lấp lánh trên lá, ríu rít tiếng chim rời tổ đi kiếm ăn, mây trắng vắt ngang triền núi, những tia nắng đầu tiên xuyên qua cành lá. Sao Mai cùng HHN vui vẻ đi ra khỏi cốc, trong cánh rừng.

HHN (trầm ngâm):

Sao Mai à, chị hiểu tâm trạng của em! Lý thuyết dài dòng nghe chán nản quá không thực tế. Dường như mọi người đều nghĩ rằng học về Thiền Định thì nhiều lắm là mất một vài buổi. Chỉ cần ông thầy nói sơ qua cách ngồi Thiền là xong. Có gì đâu mà phải học nhiều.

 SAO MAI:

Em  cũng nghĩ như vậy mà. Chị biết không, chính em cũng đi “tầm sư học đạo” nhiều lần rồi đó. Có ông thầy thì chỉ em phương pháp ngồi Thiền, có thầy thì nói thời buổi mạt pháp này nên chỉ có phương pháp Niệm Phật là thù thắng nhất; có thầy thì nói phải có điểm đạo mới mong giải thoát được. Em phải nói thật là, chuyện này làm em rối tinh rối mù một thời gian lâu lắm. Bây giờ em chỉ muốn học mỗi kỹ thuật mở nhãn thôi, chị ạ.

HHN:

Em cần hiểu rằng thiền định là công cụ, là cửa ngõ tất yếu mà người ta phải đi qua nếu muốn mở được con mắt thứ 3 hay còn gọi là Đệ Tam Nhãn . Suy nghĩ này của đại đa số người ta thực sự là chính xác. Nhưng khi đề cập về Thiền Định, thì không riêng gì Việt Nam, mà hầu hết các nước trên thế giới - cũng chẳng thấy một giáo trình, một lý thuyết, một chủ thuyết, một kỹ thuật có trình tự lớp lang dạy tu Thiền Định. Người thầy muốn truyền lại học trò của mình, thì dường như cũng chẳng có giáo trình nào cả. Các chỉ dẫn mang nặng tính chất tự phát, không có một hệ thống khoa học nào cả. Ở Việt
 Nam có quá nhiều tông phái. Cũng có tông phái in một hai trang giấy chỉ dẫn về cách thực hành và cũng chỉ có thế mà thôi.

SAO MAI:

Chị nói đúng đó. Có người nói với em là muốn tu Thiền thành công, là phải có ông thầy trực tiếp dạy. Em  thuộc loại người “phước mỏng nghiệp dày”, nên có lần hỏi thầy: “Con muốn tu Thiền Định thì phải làm sao?”. Thầy trả lời: “Về tịnh đi, về tịnh đi …”. Thiền có ba cấp: Sơ thiền, Trung thiền, Đại định. Có một thời gian em tu mãi mà chẳng tiến bộ nên không thích tu nữa, nên rồi mới hỏi thầy: “Con tu lúc này sao làm biếng quá”. Thầy trả lời: “trước làm biếng thì nay làm siêng”.

HHN:

Chắc chẳng phải một mình Sao Mai gặp phải tình huống này. Có lẽ cũng có những quí độc giả được nghe những câu trả lời tương tự. Như quí vị đã biết, thực sự Thiền Định ngày hôm nay cũng chẳng có một chủ thuyết chính quy nào cả. Chỉ cần ra một tiệm sách bất kỳ ở một thành phố nào đó, chúng ta bắt gặp trên kệ sách tôn giáo có nhiều trường phái thiền định. Rõ ràng là một Mê Thất không có lối thoát. Rất có thể vì lý do này, mà một người muốn học tu Thiền Định, cũng chẳng biết làm thế nào phân biệt và quyết định mình nên tu theo trường phái nào; nếu muốn tìm hiểu sâu hơn, cặn kẽ hơn, thì cũng không biết tìm những tài liệu này ở đâu.

Về vấn đề thời gian học tập thì em  cũng biết rồi đó. Ngay trong cuộc sống thế gian bình thường, một người học cho đến cao học, tiến sĩ, cũng mất mười mấy đến hai chục năm, với điều kiện là không thi rớt. Do vậy, ai cũng biết Thiền Định là cơ sở, là nền móng để mở Đệ Tam Nhãn mà chỉ học có vài ngày, vài tuần … thì sợ khó có thể thực hiện được. Bản thân Sakya Muni cũng phải học mất nhiều tháng, nhiều năm. Có một số người cho là họ có thể thành công và đạt được những kết quả Thiền Định chỉ trong vòng vài tháng, thì quả thật là một thành tích hy hữu. Giảng sư Lê Tôn Nghiêm từng nói: “Thiên tài là đổ mồ hôi, thiên tài là trò chơi của sự kiên nhẫn”!

Sao Mai cũng như quí độc giả, nếu quí vị muốn đi xa trên con đường tiến hóa, thì việc trang bị các kiến thức tối thiểu về Thiền Định là cần thiết, như thế mình mới có thể tự tin để hướng về mục tiêu là mở được Đệ Tam Nhãn.

SAO MAI:

Cách nói của chị thì nghe rất hợp lý.  Nhưng chị cũng biết là khi mình tu Thiền, thì ai cũng có một vị thầy riêng của pháp môn mình đang theo đuổi, và người thầy này sẽ chỉ đường cho mình đi. Có điều là riêng cá nhân em, đôi khi tôi đang tu nửa chừng, bỗng phát hiện ra cái pháp môn mình đang theo đuổi nó có gì đó không ổn. Cái này mới thật là rối ren vì chẳng biết phải làm sao.

HHN:

Té ra là em cũng có khá nhiều kinh nghiệm trong việc tầm sư học đạo nhỉ. Quá trình thực hành Thiền Định cũng tương tự như thực hành bất cứ bộ môn nào khác, chắc chắn sẽ phát sinh những thuận lợi và những khó khăn trở ngại. Lúc đó chúng ta mới thấy lý thuyết là cần thiết. Vì thiếu kiến thức sẽ làm cho chúng ta mất phương hướng, lạc lõng không biết đi về đâu. Không loại trừ là chúng ta sẽ rơi vào những tình huống xấu nhất như bị ma nhập, thác loạn tâm lý … thậm chí là điên.

SAO MAI:

Em nghe chị giải thích cũng hiểu được phần nào! Cổ nhân thường nói “Dục tốc bất đạt” có lẽ không phải là sai! Dù muốn hay không, em cũng đành phải ngoan ngoãn, bấm bụng nghe theo lời của chị, vì chẳng còn biết làm cách nào hơn được nữa! À mà em nghe nói chị có cuốn sách hay lắm. Chị có thể xem cuốn sách đó và cho em biết khi nào em lấy chồng được không?

HHN:

Sao em không học thiền định,  tự tập để mở được Đệ Tam Nhãn đi, vậy có phải tiện hơn không? Khi có Đệ Tam Nhãn, mình biết cả quá khứ vị lai, Sao Mai ạ! Tất nhiên là biết cả việc bao giờ mình lấy chồng.

SAO MAI:

Mà cũng lạ thật! Làm sao mà con mắt thứ ba lại biết quá khứ, vị lai được? Chị có bằng chứng gì về vấn đề này không vậy? Em nghĩ việc này khó tin quá! Chúng ta đang ở thời đại @ là thời đại khoa học và công nghệ phát triển chứ không phải là người thời tiền cổ đâu, chị ạ!

HHN:

Đây đây, cuốn sách này  biết trước em sẽ đặt ra vấn đề này, nên đã có sẵn câu trả lời như sau: Truyền thống Phật Pháp định nghĩa là thần thông, hay nói đúng hơn là con mắt thứ ba là gì? Câu trả lời là “Thông suốt người và ta, trong ngoài”. Nói một cách khác, với con mắt thứ ba thì không gian và thời gian chỉ là một, chết và sống là như nhau ... Nó có khả năng biết quá khứ, hiện tại, vị lai . Ðây chính là nội hàm và ngoại diện của con mắt thứ ba.






Friday, May 2, 2014


Lời thưa của người viết.

Kính thưa quí độc giả!

Bài viết này cũng như những bài viết khác của trang blog này, chỉ là ý kiến chủ quan của một cá nhân, không được một cơ quan có thẩm quyền hoặc một tổ chức chức năng xét duyệt. Do đó, những bài viết này, không có giá trị xét ở bất cứ góc cạnh nào.

Sau đây chúng tôi xin đăng nguyên văn phần thư và một số comments của một số quí độc giả:

Tôi năm nay 48 tuổi, sinh sống tại tỉnh Sơn La.Tháng 8/2013 tôi tập trường sinh học dưỡng sinh (thiền theo theo trường phái của tổ sư Đasira Narada).  Ngày 12 và 13/4/2014 tôi học lớp 3 về thiền (cấp 3), mỗi ngày tập 2 lần (buổi sáng, buổi tối). Khoảng ngày 20/4/2014 đến nay sau khi đang tập thiền, tập xong khởi động về thiền, tôi thấy có hiện tượng 2 tay múa lượn theo vô thức như có một thế lực nào đó điều khiển cơ thể. Trạng thái tinh thần nửa tỉnh, nửa mê, không làm chủ được bản thân như có một thế lực nào đó chiếm quyền kiểm soát cơ thể: người ngả nghiêng, dao động, lúc thì tự nằm xuống nền nhà tay sờ mó khắp cơ thể nhát là khu vực vùng cổ tôi khạc ra máu. Tiếp theo có một thế lực vô hình đưa tôi đi lại quanh nhà, tôi rất sợ! Càng về sau khi hỏi về một người nào đó thì có ai đó trong đầu tôi cho tôi biết về người đó như thế nào, chỉ dẫn, như là nói thay cho tôi...
         
 Ngày 24/4/2014, người nhà cho rằng tôi bị thần kinh hoang tưởng đưa tôi đi khám tại Bệnh viện Bạch Mai nhưng không phát hiện tổn thương não, không có dấu hiện tâm thần. Bác sỹ Khoa sức khoẻ tâm thần cho rằng tôi bị đắc ý như người sử dụng ma tuý, không nên tập thiền nữa. Tôi rất hoang mang có nên tập hay không. Nếu tập thì như thế nào? nếu không tập xẽ bị như thế nào vì thầy giáo dạy thiền nói là học cấp 3 về thiền nếu không tập xẽ không tốt cho sức khoẻ...

          Xin được hồi đáp trong thời gian sớm!

Văn Châu Phan 10:37 PM

Đó là trạng thái hoạt động của cơ thể được huân tập từ lâu.Nghiêng bên này ngã bên kia khi tĩnh tọa...là chuyện bình thường.Nếu không sáng suốt điều chỉnh thân tâm,bước tiếp theo sẽ bị điều điều khiển và khủng bố của âm cảnh...Người bắt đầu tu thiền thường gặp hiện tượng này.

Thiện Ánh 8:58 PM
Chắc vụ này là trường sinh học đây mà, bạn trên bị một trạng thái mà phim tàu hay gọi là "tẩu hỏa nhập ma". Bạn nên ngừng ngay lại nếu càng nặng càng khó chữa trị!!!


Trước nhất xin cám ơn quí độc giả đã tin tưởng vào “dịch vụ thiền định” (nói một cách khiêm tốn và hài hước) của trang blog này! Rất mong được quí độc giả gởi thêm những bình luận comments khác, tạo điều kiện để chúng ta rộng đường công luận.


ĐẶT VẤN ĐỀ

- Ở đây chúng ta không đặt vấn đề, sự thật có ma nhập hay không? Nếu đặt vấn đề thế này, thì lại nảy sanh ra những câu hỏi khác như là có ma hay không?!
- Chúng ta chỉ quan tâm tới hiện tượng, cho là chủ quan của con người. tuy nhiên hiện tượng này, dù chúng ta không giải thích được (gọi là đa nhân cách, gọi là nhị trùng bản ngã…dân gian đơn giản gọi là ma nhập) nhưng hiện tượng này, được người ta nhận biết, bất cứ ở đâu, bất cứ lúc nào… Chúng ta từng xem những phim ảnh của Âu Mỹ và thấy các vị linh mục sử dụng nước thánh, thánh giá… để trục ma, trục quỷ. Nói một cách khác, hiện tượng này thường xảy ra cho người tu thiền định, cũng như cho người bình thường.

-         Dường như người ta có hai thái độ đối với vấn đề này:

v     Một số người thì cho là, việc bị nhập này là một tai họa cho họ, gây trở ngại trong cuộc sống đời thường. Họ rất muốn đào thoát ra khỏi cảnh bị nhập, nhưng chẳng có ai chỉ dẫn; chẳng có kỹ thuật nào để giải quyết vấn đề này cả. Cơ thể vật chất của họ như là một chiếc nhà trọ, ai muốn đến thì đến, ai muốn đi thì đi…. Họ đành bất lực trước hiện tượng này! Họ chỉ còn có cách “chung sống” với một hoặc nhiều vị khách không mời mà đến. Nỗi khổ này không biết than thở với ai.

v     Tuy nhiên, cùng một hiện tượng này, thì lại có những người có ý nghĩ khác. Họ lấy làm hân hoan, thú vị, tự hào vì được…bề trên, Thánh, Bồ Tát, Phật… giáng. Việc này là một hiện tượng hoàn toàn có thật. Có lẽ rất nhiều quí vị, đã được chứng kiến cảnh đồng cô, bóng cậu lên đồng, nôm na gọi là mời hồn ma nhập vào mình, mời những người chết rồi nhập vào mình, thật hay giả thì chẳng ai biết được. Người ta làm công việc này vì rất nhiều lý do. Thông thường là do yêu cầu của các thân nhân người quá cố, muốn biết nguyện vọng của người đã chết rồi có nhu cầu gì?

- Phải kể thêm có một dạng nhập khác nữa, có thể bảo từ thấp tới cao, về phẩm cũng như về lượng. Chúng ta thử kể một số vị nổi danh thế giới, có những tác phẩm để đời như:  Lobsang Rampa, Barbara Ann Brennen, Blavasky… phải kể thêm đến một con mèo Thái Lan nữa…thật giả không ai biết được! Quí độc giả cũng nên để ý, tác phẩm của những vị nói trên từng là những tác phẩm bán chạy nhất (Best seller) của một thuở nào đó. Ở một đẳng cấp thấp hơn, thì người ta mong mỏi được nhập, có thể vì những lý do sau đây:

-         Thỏa mãn cái tôi, được người ta gọi là thầy, là cô, là cậu, mọi người kính trọng nể nang, van vái, cầu xin…

-         Họ thường làm các công việc: giảng pháp tu hành, chữa bệnh, bói toán về gia đạo, tình duyên, công việc làm, tiền bạc… nói chung là đủ các thứ. Họ không cần đòi tiền thù lao, mà thân chủ rất lấy làm hân hạnh được cúng tiền càng nhiều càng tốt, vì người ta cho rằng, đó là lễ vật dâng lên thần, lên thánh.


CÁC DẠNG TU VỚI BỐI CẢNH Ở VIỆT NAM NÓI RIÊNG
 VÀ TRÊN THẾ GIỚI NÓI CHUNG.

Vâng, điều tất nhiên là không phải ai cũng là chuyên gia, chuyên viên về tất cả các lãnh vực. Bộ môn thiền định nghe có vẻ hiền lành, vô hại, ít nhiều thiêng liêng cao cả…ai cũng bảo là có lợi cho sức khỏe, tinh thần, vật chất. Các thông tin đại chúng đều cho thấy mặt tích cực của bộ môn này, thậm chí đến tổng thống về hưu của nước Mỹ cũng tập thiền định. Chúng ta không tìm thấy ở đâu những thông tin mang tính chất tiêu cực của bộ môn này.

Như chúng ta đã biết đấy, thuốc tây cũng có tiêu chuẩn là thực phẩm thuốc tây của Mỹ. Máy móc xe hơi có tiêu chuẩn OEM, dầu nhớt có tiêu chuẩn API, quản lý cũng có tiêu chuẩn ISO…. Tuy nhiên, bộ môn thiền định quá phổ biến ngày hôm nay thì chẳng có tiêu chuẩn kỹ thuật, chất lượng nào cả! Kể cả những chuyên viên, cũng chẳng ai dám khẳng định là có bao nhiêu trường phái thiền định.

Dù số lượng trường  phái có nhiều cách mấy, về bản chất chúng ta có thể chia làm hai loại được kể sau đây:

1.     Tập luyện thiền định dựa vào sức lực của chính mình: Phật giáo nguyên thủy, một số trướng phái Yoga

2.     Tập luyện thiền định dựa vào sức lực của những thực thể không xác định được (unidentified entities). Dạng này nhiều vô số kể, chúng ta có thể kể một số sau đây: thần quyền, Phật quyền, Lati thăng, Subud, Vô Vi, Phật giáo Cao Đài, Đasira Narada, Mật Tông Tây Tạng…. Phật giáo Tịnh Độ Trung Quốc…

Có lẽ hầu hết mọi người đều biết câu chuyện Tây Du Ký. Nếu chúng ta để ý, thì có thể đưa đến một nhận xét mang tính chất điển hình, liên quan đến việc tu thiền định. Tại sao các yêu tinh đều có ý định muốn bắt Đường Tam Tạng, mặc dù biết lực lượng của Đường Tam Tạng là rất mạnh. Đồng thời, mặt khác còn được sự hỗ trợ của các vị Phật, các vị Bồ Tát. Trong số đệ tử của Đường Tam Tạng, co Tề Thiên Đại Thánh với 72 phép thần thông, là một đối tượng rất khó chịu! Vậy mà, lần lượt các chúa động đều giăng bẫy phục kích để bắt bằng được Đường Tam Tạng. Đây là đáp án trong việc tu thiền định là một con đường không thể tránh được, nó là nền móng của tất cả các vấn đề. Nhưng do tu khó quá, nên các yêu tinh bàn với nhau tìm con đường đi tắt cho mau thành chánh quả. Đó là  ăn thịt Đường Tăng để tăng thêm công lực thiền định - là phương án tối ưu. Ai từng tu thiền định thực sự nhiều năm, thì chắc chắn sẽ thông cảm tâm trạng của các yêu tinh.
Trong cuộc sống đời thường không thiếu gì các loại “hobby” (sở thích), chẳng thiếu gì những trò chơi điên rồ, kỳ cục; thậm chí là nguy hiểm tới tánh mạng. Tuy nhiên, chẳng có trò chơi nào lại giống với thú vui thiền định. Trò chơi này đi ngược lại bản năng bảo tồn (instinct de conservation) vốn có bẩm sinh của con người. Tự mình còn cắt đi bản năng xã hội, bản năng tình dục, cùng các bản năng khác và duy trì tình trạng này đến khi mình chết! Rõ ràng là một cuộc chiến không khoan nhượng, chiến đấu 24/24 với chính mình, thật vô lý?! (Có tài liệu bảo, kẻ thù lớn nhất trong đời là chính mình).

Có lẽ bất cứ ai tu thiền định lâu năm, chắc chắn cũng đều có một tâm trạng chung, là mong có một cái gì đó để đánh dấu công lao tu hành của mình; chính mình khẳng định con đường đi.  Trong đời tu thường gọi là ấn chứng. Nhưng thực tế, người viết bài này đã có cơ hội phỏng vấn nhiều người tu nhiều năm. Họ cho biết chắng có ấn chứng gì cả! Họ tỏ ra buồn bã và thất vọng. Do đó, ai đó thực sự đã có thời gian tu thiền định lâu năm mà lại nói rằng: không cần ấn chứng, coi thường ấn chứng, thậm chí là khinh bỉ ấn chứng… thì e ngại là thiếu sự  trung thực với mình chăng?! Thật vậy, chúng ta có thức khuya mới biết đêm dài, có tu thiền định lâu năm mới biết mình mong muốn cái gì. Chính vì lý do này, mà các quí vị yêu tinh, đã tìm một con đường đi tắt, để mong sớm mở được cánh cửa của sự bất tử, yếu tố Santi, Niết Bàn Vô Dư.

Ở đây chúng ta đang đề cập tới loại thiền định dựa vào tha lực. Cách tu tập này, vô tình hoặc hữu ý, chúng ta đã vướng phải những định luật của thế giới tự nhiên, ở một loại không gian khác. Đó là những định luật:

- Nhân quả
- Tương ưng
- Phản tương ưng
- vv…

Kính thưa quí độc giả!

Đây chính có lẽ là gốc rễ của vấn đề, mà quí độc giả đang quan tâm tới.
Nếu đi vào chiều sâu, vấn đề này phức tạp hơn người ta tưởng rất nhiều. Có rất nhiều câu hỏi người ta có thể đặt ra, thí dụ: ai mà trả nợ nần, kiếp này, kiếp trước …(nếu chúng ta tin là có nhiều kiếp); tại sao lại lại là tôi (bị nhập), còn những người khác thì sao? 

Sau đây là câu trả lời:

a.                Người bình thường thì ý thức lúc nào cũng ở bên mình, lúc ngủ ý thức có kém đi chút ít, nhưng không phải mất hẳn, nó vẫn tồn tại. Điều này ai cũng có thể tự quan sát chính mình. Dù nằm mơ tôi vẫn thấy tôi là tôi. Tuy nhiên, ở vào một số tình huống cố ý hoặc vô tình, ý thức của chúng ta bị mất đi.

·        Người tu thiền chú tâm vào vật duy nhất cho đến khi mất đi ý thức. Thao tác này thường được gọi là chánh định
·        Sử dụng các lọai chất say: rượu, thuốc phiện, hóa chất
·        Bị thôi miên cũng mất đi ý thức.

Ở vào những trạng thái nói trên, vì mất đi ý thức, các vong linh có cơ hội chiếm đoạt cơ thể con người vật chất.

b.                Vấn đề tâm lý

Nếu nói như trên, thì hễ cứ tu thiền là bị ma nhập hay sao? Không thể nói như vậy được, còn yếu tố tâm lý nữa. Mà phải bảo yếu tố này là một yếu tố quyết định. Ai chẳng biết tâm đứng đầu, tâm tạo tác tất cả. Do tâm trạng mong cầu và định luật tương ưng; do cấu tạo tâm của chính bản thân mình. Chính vì những lý do này mà người này bị nhập,  người khác thì không. Cụ thể là như thế này, bản thân mình thích những thú vui của cảnh dục giới: ăn uống, quan hệ nam nữ, uống rượu, thích làm thầy, thích giảng pháp, thích chữa bệnh, thích tiên đoán…thích người ta ca ngợi mình là: thầy, Bồ Tát, thần thánh. Phải bảo đây là một thiên đường cho các chư ma nhập! Xin phép thuyết minh tại sao. Vì cấu tạo tâm của chúng ta nghiêng về cảnh dục giới quá nhiều, tỷ lệ bất thiện tâm quá cao. Do đó, tương ưng với cảnh chư ma không có thân xác vật lý, họ cần thân xác vật lý để thỏa mãn những nhu cầu mà chính chúng ta cũng thích.

c.                 Bị nhập còn do nhân quả nợ nần. Người tu thiền định cũng bị, người không tu cũng bị.

-         Nợ nần vì do sát sanh, cố ý hoặc vô tình giết chóc
-         Nợ tình (món nợ lớn nhất trong đời là tình cảm)
-         Nợ tiền
-         Do nói dối
-         V.v…

Kính thưa quí độc giả!

Phần trên ít nhiều đã trình bày những  yếu tố nói chung đã đưa đến hiện tượng bị nhập. Nhập chỉ là hệ quả của một số yếu tố có nguồn gốc rất là xa xôi, phức tạp khó hiểu!  Do đó, việc gọi là trừ ma, đuổi quỷ có lẽ không hợp lý, phải có một phương án giải quyết hợp lý thì đúng hơn. Trừ ma, đuổi quỷ chỉ là một phương án mang tính chất tình thế, không giải quyết được từ gốc rễ.

Trong lá thư độc giả nói trên có hỏi đến phương án xử lý?
Chúng tôi xin gợi ý một số phương án nói sau. Những phương án này có thành công hay không, còn lệ thuộc ở rất nhiều sự quyết tâm của quí độc giả.

-         Hồi hướng công đức tu hành. Phải hồi hướng với tâm thật chân thành. Khi hồi hướng,  mình phải thực sự chân thành nghĩ như vậy. Công phu tu hành như một thứ tiền bạc vô hình chúng ta đưa cho người khác. Chúng ta có thể nói thế này: “Nguyện xin hồi hướng công đức tu thiền định đến chư vị mà tôi nợ nần kiếp này, kiếp trước…”

-         Phải bỏ tâm lý mong cầu, chú tâm vào công phu thiền định. Diễn tiến mà quí độc giả nêu ra là vô cùng phổ thông cho hiện tượng bị nhập. Đại để ai cũng có diễn tiến như vậy.


-         Muốn tu thiền định yên ổn thì mong quí độc giả nhớ hai công thức sau đây:

+ “Giới định huệ” đó là công thức bất tử của trường phái Phật giáo.
+ “Kỹ luật bản thân, kiểm soát tinh thần, tham thiền nhập định” đó là công thức bất tử của trường phái Raja Yoga
+ Giữ giới, kỷ luật bản thân thì đã là xa lìa các bất thiện tâm.
+ Định, nhập định là thiền thiện tâm, thì không thể có bất thiện tâm hiện hữu. Đây là cơ sở để đưa đến sự hiểu biết gọi là tuệ.
+ Mong quí độc giả ghi nhận. Muốn tu thiền định yên ổn thì đừng quên điều người ta thường gọi là con đường bất tử: Bát chánh đạo ( chánh định, chánh mạng, chánh tư duy…)

Người tu thiền định thường cho là: Giới là mẹ của tất cả các sự an toàn. Lý do dễ hiểu là giới và kỹ luật bản thân phá vỡ định luật tương ưng với các chư ma. Các chư ma hoàn toàn không thích nhập vào những người tu thiền định giữ giới, vì cấu tạo tâm và cấu tạo sắc của họ khác hẳn điều chư ma mong muốn.

Kính chúc quí độc giả tu hành tinh tấn!




Tuesday, April 29, 2014






Kính thưa quý vị độc giả thương mến!

Cảm ơn quý vị đã quan tâm và chia sẻ với HHN về những câu chuyện thực tế trong quá trình thiền định!

Nhóm HHN chúng em đã nhận được thư và một vài ý kiến của quý độc giả từ trong và ngoài nước. Cảm ơn quý độc giả đã đặt niềm tin, trao đổi và bày tỏ, chia sẻ những ý kiến quan trọng, quý báu đối với chúng em! Nhóm HHN  xin chia sẻ lại cùng quý vị độc giả để chúng ta cùng trao đổi và tìm ra những nguyên nhân cũng như hướng giải quyết  để tránh bị mắc phải những sai lầm trong quá trình thực hành thiền định. Sau đây là nội dung lá thư của một quý độc giả gửi đến từ Sơn La, Việt Nam:


          Tôi năm nay 48 tuổi, sinh sống tại tỉnh Sơn La.Tháng 8/2013 tôi tập trường sinh học dưỡng sinh (thiền theo theo trường phái của tổ sư Đasira Narada).  Ngày 12 và 13/4/2014 tôi học lớp 3 về thiền (cấp 3), mỗi ngày tập 2 lần (buổi sáng, buổi tối). Khoảng ngày 20/4/2014 đến nay sau khi đang tập thiền, tập xong khởi động về thiền, tôi thấy có hiện tượng 2 tay múa lượn theo vô thức như có một thế lực nào đó điều khiển cơ thể. Trạng thái tinh thần nửa tỉnh, nửa mê, không làm chủ được bản thân như có một thế lực nào đó chiếm quyền kiểm soát cơ thể: người ngả nghiêng, dao động, lúc thì tự nằm xuống nền nhà tay sờ mó khắp cơ thể nhát là khu vực vùng cổ tôi khạc ra máu. Tiếp theo có một thế lực vô hình đưa tôi đi lại quanh nhà, tôi rất sợ! Càng về sau khi hỏi về một người nào đó thì có ai đó trong đầu tôi cho tôi biết về người đó như thế nào, chỉ dẫn, như là nói thay cho tôi...
         
 Ngày 24/4/2014, người nhà cho rằng tôi bị thần kinh hoang tưởng đưa tôi đi khám tại Bệnh viện Bạch Mai nhưng không phát hiện tổn thương não, không có dấu hiện tâm thần. Bác sỹ Khoa sức khoẻ tâm thần cho rằng tôi bị đắc ý như người sử dụng ma tuý, không nên tập thiền nữa. Tôi rất hoang mang có nên tập hay không. Nếu tập thì như thế nào? nếu không tập xẽ bị như thế nào vì thầy giáo dạy thiền nói là học cấp 3 về thiền nếu không tập xẽ không tốt cho sức khoẻ...

          Xin được hồi đáp trong thời gian sớm!

Monday, April 28, 2014



SAO MAI says:

          Qua câu chuyện trao đổi với chị về đề tài này, càng ngày em càng thấy có nhiều thắc mắc. Không hiểu hiệu ứng Kirlan và hào quang của vật sống có mối liên hệ gì không? Sự thật hào quang của vật sống có hiện hữu hay không? Số lượng của màu sắc quá nhiều. Chị thử nghĩ xem chỉ một màu đỏ thôi, đã có hàng trăm mầu đỏ đậm nhạt khác nhau! Vậy thì biết làm sao nhỉ? Em cũng search trên trang web, thì thấy có hàng trăm ý kiến khác nhau về vấn đề màu sắc. Vậy chị có ý kiến gì về vấn đề này?

HHN says:

          Cho tới ngày hôm nay, đây vẫn còn là một đề  tài gây nhiều tranh cãi. Ít nhất người ta cho rằng có hai phe. Một bên thì cho là, các vật sống thực sự được bao bọc bởi các dạng hào quang. Một số người khác thì lại cho là, họ dựa vào hiệu ứng Kirlan, không công nhận sự hiện hữu của hào quang. Muốn hiểu điều này chúng ta phải quay  lùi về những thời gian trước. Như mọi người đều biết, vào năm 1930 hai vợ chồng thợ điện người Nga, tình cờ ghi nhận được những tấm hình có hào quang bao quanh một số đối tượng thử nghiệm. Thử nghiệm này được ngành khoa học vật lý gọi là “Thác đổ điện tử”. Chúng tôi cũng biết rằng sẽ có ít quý độc giả hứng thú với bộ môn vật lý. Tuy nhiên, để hiểu rõ vấn đề này và có thể phân biệt với vấn đề hào quang, chúng ta cũng nên hiểu sơ qua về cách chụp hình của hiệu ứng Kirlan. Tuy nói là chụp hình, mà sự thật lại không hề có cái máy hình nào cả. Chúng tôi xin mô tả sơ lược cách để có những tấm hình gọi là hiệu ứng Kirlan:

 Đầu tiên có một nguồn điện cao tầng, cao thế. Từ đây điện được đưa qua một cái bàn có để một tấm hình hiệu ứng Kirlan. Trên bàn trải một cái lá chẳng hạn. Dưới cái lá là một tấm phim chụp hình. Dưới tấm phim chụp hình là một miếng kiếng. Bên dưới tấm kiếng là một miếng kim loại dẫn điện, mà từ bình dân người ta  gọi là dây đất. Cuối cùng là một tấm cách điện. Khi đưa điện cao tầng, cao thế với những tham số kỹ thuật nào đó vào, rồi lấy tấm phim ra, thì người ta có được những tấm hình của hiệu ứng Kirlan.

          Hiệu ứng này trong ngành vật lý học được giải thích khá rõ ràng: Khi có sự kích thích bằng ánh sáng điện trường, thì các điện tử của các nguyên tử, phân tử tạo ra hiệu ứng dây truyền, làm cho các thành phần nói trên ion hóa. Khi các điện tử trở về một trạng thái khác, chúng để lại năng lượng bằng một quang tử. Chính vì lý do này mà chúng ta thấy có một vầng sáng.

          Hiệu ứng này được mọi người biết đến do hai người Mỹ phổ biến. Lúc đầu được tưởng rằng người ta đã chụp được vầng hào quang thần thánh nhiệm màu mà các tôn giáo thường đề cập đến. Sau đó qua nhiều công cuộc khảo cứu thì khoa học ngày hôm nay lại không đặt niềm tin vào vấn đề này.

SAO MAI says:

          Ôi! Chị HHN à! Thế này thì vấn đề hào quang đã đến chỗ bế tắc rồi sao?! Thiên thần cứu thế đã bị gãy cánh bởi cái tên là hiệu ứng Kirlan ư?!  Vậy thì chẳng còn gì để trông mong nữa rồi sao?!.

HHN says:

          Tình hình không đến nỗi xấu như vậy đâu. Hiệu ứng Kirlan không giải thích được, thì với hiệu ứng của bác sĩ Hunt lại làm sống lại vấn đề. Cách thử nghiệm như thế này: một người có khả năng đọc hào quang và sử dụng nhiều người khác nhau để đọc hào quang trên những bộ phận nhất định nào đó của cơ thể họ. Song song với việc này, người ta sử dụng những cảm ứng điện tử có được số đo tần số từng màu sắc một. Cuối cùng, một bảng thống kê tần số và màu sắc ra đời. Xin quí vị vui lòng coi lại bảng đối chiếu tần số hào quang và quang phổ bình thường trong những bài trước.

SAO MAI says:

          Cuối cùng thì dường như dấng cứu thế đã xuất hiện. Em hy vọng đề tài hào quang sẽ là đề tài kết luận có hậu.

HHN says:

          Mong quí độc giả cũng như Sao Mai nhớ lại những bài trước! Có những thực tế mà không cần những kiến thức nói trên. Thật vậy, màu sắc là sóng điện từ, chỉ khác nhau về tần số. Chúng ta cũng là những bộ máy tinh vi vậy, quí độc giả có thể hoàn toàn cảm nhận không cần phải máy móc nào cả. Chúng ta tự quan sát chính mình và quan sát một vài người rất là thân cận trong khoảng thời gian nhiều năm. Chúng ta hãy để ý chính bản thân chúng ta. Thường thì chúng ta chỉ thích một số loại màu sắc nào mà thôi. Nếu phải mặc quần áo với những màu sắc khác biệt mà mình không thích, thì chúng ta cảm thấy rất khó chịu. Điều này xảy ra với tất cả mọi người chứ chẳng riêng gì ai. Đôi khi chúng ta cũng thay đổi màu sắc quần áo, nhưng  chỉ có tính cách nhất thời. Đời người có thể chia ra nhiều giai đoạn khác nhau, mặc những màu quần áo khác nhau, tùy theo tình trạng tâm lý, sức khỏe và sự tương thích hào quang của chúng ta. Khi chưa trưởng thành, hầu hết các em bé đều thích màu hồng, những màu thuộc về gam nóng. Chúng ta thử hỏi có mấy khi thấy các em  bé thích màu trắng và màu đen bao giờ đâu. Chúng ta vào một siêu thị khu bán quần áo đồ chơi cho trẻ em, hầu hết là thuộc gam nóng, nhất là màu hồng. Rõ ràng là những người chế tác vật dụng này, họ có khả năng nhìn thấy hào quang của các e bé hoặc họ bắt chước những người khác nhìn thấy hào quang của em bé. Phải nói là ngược lại, màu đen và màu trắng được người ta sử dụng trong những đám ma ở khắp nơi trên thế giới. Có lẽ chăng, người ta cũng nhìn thấy cái gì đó.


SAO MAI says:

          Em hiểu rồi chị ạ, việc nhìn thấy hào quang không phải là chuyện dễ, mặc dù có rất nhiều cách để tập. Như vậy chứng tỏ là việc này tập rất khó! Cho nên phải có nhiều cách như vậy. Tuy nhiên, nếu có một chút hiểu biết với một chút trí nhớ bình thường; có thêm chút ít suy luận hợp lý, chúng ta cũng trở thành những người có thể nhìn thấy hào quang qua trung gian màu sắc quần áo. Thật vậy, (để phân biệt với màu sắc quần áo đồng phục của những tập thể) chỉ cần quan sát màu sắc quần áo ăn mặc của ai đó một cách vô tình   là chúng ta đã ít nhiều nhìn thấy hào quang của họ thực sự là khá chính xác. Những giải thích của màu sắc chỉ mang tính chất tượng trưng. Nó còn lệ thuộc rất nhiều vào kinh nghiệm bản thân của mình. Biết đâu có những quí độc giả,sau khi đọc xong những bài viết này, rồi với những năm tháng kinh nghiệm chồng chất, quí độc giả sẽ trở thành những chuyên viên, chuyên gia về vấn đề này.

HHN says:

          Mặc dù khả năng nhìn thấy màu sắc không phải là quá khó, nhưng cũng có thể nói rằng không phải là dễ. Có lẽ rất nhiều người muốn tập nhưng không tập được. Do đó sanh ra tâm lý chê bai coi thường, thậm chí là khinh miệt để tự an ủi lương tâm của mình.

Nào chúng ta hãy tiếp tục với màu cam.

Màu cam

          Thật ra màu cam chỉ là một nhánh của màu đỏ. Tuy nhiên, chúng ta chia hẳn một phần để nói về màu cam. Ở vùng viễn đông có một số tôn giáo đã dùng màu cam để chỉ về mặt trời. Chính vì lý do này mà người ở vùng viễn đông hay sử dụng màu cam. Tuy nhiên lại có tôn giáo cho rằng màu xanh dương mới là màu của mặt trời.

          Về cơ bản mà nói, màu cam là màu tốt. Người có hào quang màu cam được người ta đánh giá cao. Đó người có tấm lòng nhân đạo, họ thường giúp đỡ người khác. Người có hào quang màu vàng cam là người tự chủ và có nhiều đức tánh.

          Màu vàng cam pha lẫn với màu nâu thể hiện đó là những người lười biếng. Màu vàng cam còn cho biết sự rối loạn của gan. Nếu màu này xuất hiện ở trên phần gan thì cho biết gan đang bị bệnh. Chúng ta không nên tranh luận với một người có màu xanh cam. Họ chỉ nhìn cái gì có một mặt, thiếu óc tưởng tượng, thiếu sự nhận xét và suy luận.
                                                                                                        

  ( Còn tiếp)


Thursday, April 24, 2014




                   
                   - Đọc hào quang (Reading Aura)

                   - Có thể thấy bằng mắt trần (Visible to the naked eye)

           - Chứa đựng nhiều thông tin hấp dẫn ( Contains fascinating information)

SAO MAI says:

Chị HHN à, qua cách trình bày của chị về Hào quang ở bài viết trước, thì em thấy rằng chúng ta có thể nhìn thấy hào quang  là một điều có thật. Tuy nhiên, thực tế thì em thấy có nhiều vấn đề cần phải đặt ra. Đó là người ta thường luôn luôn thay đổi màu sắc quần áo và còn mặc nhiều màu một lúc nữa. Vậy chị giải thích về vấn đề này như thế nào ạ?

HHN says:

Việc người ta thường thay đổi màu sắc quần áo lại càng chứng tỏ những quan sát về hào quang là chính xác. Thật vậy, hào quang không những có ở người sống, mà kể cả người đã chết rồi trong vòng 72 giờ đồng hồ thì vẫn còn hào quang với màu sắc luôn luôn thay đổi. Dường như tư tưởng và tâm trạng của con người thay đổi thì màu sắc hào quang cũng thay đổi theo. Tuy nhiên, nếu chúng ta quan sát một cá nhân nào đó, hoặc là thực tế nhất là em hãy tự quan sát mình. Em sẽ thấy chính bản thân mình thường thường chỉ thích một số loại màu căn bản chủ đạo nào đó. Và cũng vậy, nếu một người thường thích mặc quần áo có màu đen hoặc những màu tối màu chẳng hạn, mà nay lại bắt họ phải mặc quần áo có màu xanh, đỏ, thì quả thật là một cực hình về tâm lý đối với họ. Đơn giản là nó có một cuộc chiến về màu sắc với hào quang (clash). Một cuộc chiến thực sự nghĩa đen cũng như nghĩa bóng. Còn đối với những người mặc nhiều màu một lúc, thì chúng ta nên biết rằng hào quang của họ có nhiều màu chứ không phải chỉ có một màu. Nó lệ thuộc ở từng vùng trong cơ thể, tư tưởng và tình trạng sức khỏe của  con người.

SAO MAI says:

Lúc đầu em nghe chị nói rằng ai cũng có thể nhìn thấy hào quang, em tưởng là cứ nhìn thấy hào quang của ai đó, thì có thể hiểu một cách dĩ nhiên nó có ý nghĩa gì. Em không ngờ điều này lại trở nên quá phức tạp như vậy. Dường như việc nhìn thấy hào quang và việc đọc được những thông tin từ hào quang đưa lại, có vẻ như là hai việc hoàn tòan khác nhau. Và bộ môn đọc được những thông tin từ hào quang có vẻ là một bộ môn khá phức tạp.

HHN says:

Để hiểu được vấn đề này, thiết tưởng chúng ta nên có những khái niệm tối thiểu về vấn đề hào quang. Trước nhất, chúng ta thử so sánh hai bảng về màu sắc của quang phổ bình thường và màu sắc của hào quang. Chắc có một số quí vị đi học thời trung học mà còn nhớ, nhà trường có dạy chúng ta một số chữ tắt kể sau để chúng ta dễ nhớ quang phổ ánh sáng: V B V J O R. Những chữ này đọc theo âm tiếng Pháp rất dễ nhớ:

Viết tắt
Màu sắc theo tiếng Pháp
Tiếng Việt
Tần số

V
Violet
Tím
668
789
B
Bleu
Xanh
606
668
V
Vert
Chàm
526
606
J
Jaune
Vàng
508
526
O
Orange
Cam
484
508
R
Rouge
Đỏ
400
484


Chúng ta thử đối chiếu với những màu sắc của hào quang. Bảng này là kết quả thử nghiệm của bác sĩ Hunt, tháng 2 năm 1988.

Xanh                    250 – 275 Hz, plus 1200 Hz
Lục                      250 – 475 Hz
Vàng                    500 – 700 Hz
Da Cam               950 – 1050 Hz
Đỏ                        1000 – 1200 Hz
Tím                      1000 – 2000 Hz, plus 300 – 400; 600 – 800 Hz
Trắng                   1100 – 2000 Hz

Chúng ta có thể đối chiếu 2 bảng nói trên, để nhận ra rằng:

1.    Thứ tự về màu sắc không giống nhau

2.    Tần số của cùng màu sắc không giống nhau.


Nói tóm lại, màu sắc của hào quang và màu sắc của quang phổ, hình như không có mối liên hệ nào cả.

SAO MAI says:

Vậy chị có thể cho em biết những vấn đề này phục vụ gì cho phúc lợi của con người?!

HHN says:

Nếu gọi là khoa học về hào quang thì nó phục vụ rất nhiều lãnh vực cho đời sống con người.

Nếu chúng ta hiểu được hào quang ở một nơi nào đó trên cơ thể con người. Thì nó chính là những dấu hiệu cho chúng ta  biết trước những thông tin là bộ phận đó sẽ bị bệnh.

Nếu hiểu được những thông tin do hào quang mang lại, chúng ta ít nhiều hiểu được hoạt động tinh thần con người.

Qua những thử nghiệm, người ta còn có thể dùng hào quang để thay đổi trạng thái vật chất.

Người ta cho là nếu ai đó có sự tập luyện về tinh thần thì có thể thay đổi màu sắc hào quang và tăng cường việc tự chữa trị cho mình.

Dường như tổ tiên loài người hiểu rõ về vấn đề này hơn những gì chúng ta hiểu biết được ở trong thế kỷ 21. Rất tiếc là những kiến thức này, phần nhiều đã bị mất mát do thiên tai và do con người với thái độ duy vật của chúng ta.

SAO MAI says:

Chị có thể cho biết một số thông tin về những màu cơ bản mà người ta thường thấy trong hào quang của con người hay những vật sống hay không? Em cũng hiểu rằng đây là một việc hết sức phức tạp, bởi vì nó chẳng có một ranh giới rõ ràng gì cả. Thế giới màu sắc này có vẻ còn kỳ bí hơn là một chiếc kính vạn hoa!

HHN says:

          Đúng đấy em ạ! Tất nhiên chị sẽ đưa những thông tin tổng hợp về những màu sắc hào quang cơ bản của sinh vật sống. Tuy nhiên, dù không muốn, chúng ta vẫn phải hiểu một số vấn đề liên quan đến màu sắc của hào quang.

Chúng ta lấy giả thuyết là màu đỏ. Màu đỏ lệ thuộc ở quá nhiều yếu tố tỉ lệ trong hào quang. Hoặc là nó chỉ chiêm một vùng nhỏ mà thôi. Màu đỏ có thể đậm, lợt khác nhau, ngả gần tới màu hồng chẳng hạn. Màu đỏ pha lẫn với màu nâu hay màu đỏ đục mà nó không trong suốt thì lại là một vấn đề khác! Xem như vậy, chỉ nói riêng một màu đỏ thôi, cũng phải có rất nhiều kinh nghiệm để giải thích màu đỏ là cái gì.

Màu đỏ:

Bình thường thì người ta cho rằng màu đỏ là biểu tượng của sức mạnh tướng lãnh và những nhà lãnh đạo thường có màu đỏ trong suốt trong hào quang của mình. Nhưng nếu ai có màu đỏ mà lại có viền vàng xung quanh thì đó là những người hay giúp đỡ người khác. Màu đỏ ở một khu vực nhỏ, lúc xuất hiện, lúc tắt đi, báo hiệu cơ quan nội tạng trong vùng đó  ở trạng thái sức khỏe rất tốt.

Tuy nhiên lại có những màu đỏ không tốt.  Đó là những màu đỏ đục như bùn hoặc tối tăm. Nó chứng tỏ một cá nhân không tốt, một người không đáng tin cậy, hay gây sự, phản bội và ích kỷ.

Một màu đỏ trông buồn nản cho biết tâm trạng con người căng thẳng. Chúng ta đừng quên rằng một người có màu đỏ buồn nản thì tâm trạng nóng nảy, nhưng thể lực lại là người khỏe mạnh và có khả năng làm những việc không tốt. Những kẻ sát nhân thường có màu đỏ xuống cấp trong hào quang của mình. Màu đỏ lợt, chứng tỏ là người nóng nảy hơn, không ổn định. Họ luôn luôn hoạt động, không thể nào ngồi yên trong một khoảng thời gian nào đó.

Màu đỏ buồn nản pha lẫn với màu nâu xung quanh một bộ phận nào đó sẽ cho biết bộ phận đó bị ung thư. Người ta có thể bảo rằng, bộ phận này bị ung thư, hoặc tiên đoán là sẽ bị ung thư. Màu sắc này báo hiệu là bệnh tật đang tấn công bộ phận  này. Phát hiện này người ta cho là phát hiện quan trọng nhất trong việc chữa trị bệnh tật trong những năm gần đây.

Nếu chúng ta thấy màu đỏ lúc chớp, lúc tắt ở vùng hàm của mình. Thì đó là dấu hiệu cho biết chúng ta cần phải đi nha sĩ. Màu đỏ tươi trong hào quang báo hiệu một con người quá tự tin ở mình và ích kỷ. Đó là màu sắc của sự tự hào giả tạo; một sự tự hào không có nền móng. Màu đỏ tươi này, chúng ta thường thấy xuất hiện ở bên hông của những cô gái làm công nghiệp tình dục. Nhưng chúng ta đừng quên rằng đây không phải là những người phụ nữ họ thích về tình dục. Họ chỉ hành nghề này trong mục đích kiếm tiền. Chúng ta còn nhớ những câu nói như: “giận xanh mặt lên”;  “đỏ mặt vì tức giận”… Những câu nói này chứng tỏ cổ nhân của chúng ta đã từng nhìn thấy hào quang.

Cũng thuộc trong nhóm những màu đỏ là màu hồng. Đây là màu biểu tượng của việc chưa trưởng thành. Người trẻ tuổi thường có màu hồng.  Màu hồng của người lớn lại chứng tỏ người đó có tánh tình trẻ con và cảm thấy mất an ninh. Một màu đỏ nâu giống như lá gan tươi cho biết đó là một con người xấu xa. Đó là một loại hào quang chúng ta nên tránh xa. Vì đây là một dạng người thể nào cũng mang lại rắc rối. Màu đỏ nâu này xuất hiện ở đâu đó trên cơ thể là dấu hiệu báo hiệu bộ phận đó ở trong trạng thái bệnh tật rất xấu. Rất nhiều khả năng người có hào quang  màu nâu đỏ ở bộ phận này sẽ chết sớm. Những người có hào quang màu đỏ nâu ở vùng ngực báo hiệu sự rối loạn về thần kinh. Những người này phải cố gắng để làm sao kiểm soát được hành động của mình, nên sống một cách bình thản, nếu họ muốn sống lâu, hạnh phúc.

                                                                   
      ( Còn tiếp)