Thursday, March 20, 2014


Kính thưa quý độc giả, dù quý độc giả tu theo bất cứ trường phái nào và ít nhiều đã tập luyện kỹ thuật Định Tâm làm cho Tâm đứng im, đều biết là việc này rất khó đạt được. 

Giả định rằng quý vị đã chủ động tạo được trạng thái Tâm đứng im, còn gọi là Định hay Chỉ, thì việc gì sẽ xảy ra?

Ngày hôm nay, với phương tiện truyền thông đại chúng, ai cũng biết hiện tượng Cận Tử (Near-Death Experience, NDE). Đây là một hiện tượng gây nhiều tranh cãi. Hầu hết các chuyên gia trong y giới thì cho hiện tượng này chỉ là hệ quả của việc não thiếu oxygen.

Thế nhưng có nhiều trường hợp không thể giải thích thỏa đáng bằng giả thuyết trên. Trong tài liệu được dịch tiếng việt là 
"Trở Về Từ Cõi Sáng", có một nữ bệnh nhân được mô tả là ở trạng thái Cận Tử, và cô thấy cái gì đó (tạm gọi là cái Hồn), đi ra khỏi cơ thể vật lý. Cái Hồn này thấy vị bác sĩ bỏ quên chiếc chìa khóa xe trên nóc tủ, thấy một người khác đang xem chương trình ti vi ở một phòng khác, trở về nhà thì thấy chồng, thấy con … Sau khi cô sống lại, kiểm chứng những việc nói trên, người ta xác định là có thật. Một trường hợp khác là một khoa học gia người Nga. Ông ở trạng thái chết khá lâu, sau khi tỉnh dậy ông kể lại trạng thái Cận Tử. Ông được đào tạo theo hệ thống Chủ Nghĩa Xã Hội Liên Xô, tất nhiên là chỉ tin Chủ Nghĩa Duy Vật. Sau khi sống lại, ông bỏ nghề làm khoa học và trở thành thầy tu. Tất cả những thông tin trên quý vị có thể xem trên internet.


Người tu Thiền Định khi mới Định Tâm, nhất là những lần đầu tiên, đa phần đều thấy hiện tượng giống như người Cận Tử. Họ thấy một đường hầm, nửa tối, nửa sáng, gặp các Vong Linh, có thể là thân nhân, có thể là người xa lạ, người đi tới, người đi lui, có khi họ giao tiếp với những Vong Linh này. Nhưng nói chung, các Vong Linh này cũng như bản thân họ đều mang tâm trạng phân vân không biết đi về đâu. Một số người khác còn tả là ở cuối đường hầm có ánh sáng rực rỡ, họ có tác ý là muốn đi về phía này. 

Mô hình nêu trên có thể coi là một mô hình mẫu nhiều người đã gặp.

Tuy vậy nhưng không phải tất cả người Nhập Định đều có mô hình giống nhau. 

Sau đây 
Thiền định - HHN  xin đưa ra một mô hình khác do một người tu Thiền Định kể lại và không trùng lặp với mô hình kể trên. Người này cũng thực hành tu Thiền Định, tự tập chứ không có một kỹ thuật nào cả. Sự thật cũng chẳng có một kỹ thuật nào đáng gọi là kỹ thuật khi mà những tài liệu dạy tu Thiền Định chỉ vỏn vẹn trong vài trang giấy. 

Người này sống ở một thành phố lớn. Có một ngày nọ bỗng nhiên thấy mình thoát ra khỏi thân xác vật lý. Khi nhìn trên mặt bàn ở trong phòng, vị này thấy có nhiều vật dụng, nhưng đặc biệt lại nhìn thấy nhiều góc cạnh một lúc. Lúc đó vị này tự nghĩ nếu nhìn được nhiều góc cạnh như vậy thì không gian không phải chỉ là ba chiều hoặc bốn chiều … Bao nhiêu chiều thì chẳng biết nữa! Bỗng nhiên vị này thấy mình đến một nơi, nhưng do thiếu kinh nghiệm, nên không hiểu rằng đó là núi Tu Di đã được người ta mô tả! Việc di chuyển đến địa điểm này, dường như bằng vận tốc của tư tưởng. Khi nhớ lại lời dạy ở trong trường học là vận tốc ánh sáng là vận tốc tuyệt đối, thì rõ ràng trong trường hợp này cần phải nghĩ lại. Bản thân người này dường như lưng chừng ở giữa một quả núi vĩ đại, mà cái thân của mình là cái gì thì lại không biết, chỉ biết một điều là mình vẫn còn hiện hữu, tồn tại. Trong lúc tạm gọi là bay trong không khí đến một mặt phẳng vô danh, vị này thấy những người cao lớn, mặc áo choàng màu xám. Hình như họ đang làm cái gì đó trên một cái bàn bằng đá thì phải. Trong lúc tò mò quan sát, thì một trong số những người ở xung quanh cái bàn giơ tay lên, và vị này cảm thấy mình bị đau lưng. Sau đó cái gì quay về cơ thể vật lý thì chẳng biết, và vị này bị đau lưng từ giai đoạn đó.

Những kinh nghiệm kể trên có thể đưa chúng ta đến một nhận xét là cho dù có Định Tâm được nhưng nếu chúng ta không được học tập về vấn đề này từ trước, thì công việc trở nên rất khó khăn. Đợi đến khi có được kinh nghiệm bản thân, thì ít nhiều cũng đã phạm phải những sai lầm mà đáng lẽ không nên có. 

Vấn đề này tùy theo trường phái quan niệm về cái Tôi và quan niệm về Thế Giới Khách Quan.



HHN
 xin đan cử một trường phái từng nổi tiếng một thời gian trong thời cận đại, đó là trường phái Thông Thiên Học. Đặc điểm của trường phái này như mọi người đều biết, người đứng đầu và những vị kế tiếp toàn là những trí thức thượng thặng. Họ là những bác sĩ, luật sư … Tất nhiên trường phái này cũng có một chủ thuyết.

Theo Thông Thiên học, con người được mô tả là sự kết hợp của 3 hạt nguyên tử cơ bản:


    
 1. Hạt nguyên tử của Xác thân (corps physique).
     2. Hạt nguyên tử Thể Vía (corps astral). 
     3. Hạt nguyên tử Thể Trí (corps mental). 

Ba hạt nguyên tử nói trên, có thể so sánh như 3 thẻ nhớ, với số lượng vô hạn. Trường phái này gọi 3 hạt nguyên tử nói trên là Văn khố vô thủy, vô chung (archives Akasiques).

Vẫn theo trường phái này, thì có 7 Cảnh Giới lớn, mỗi Cảnh Giới lớn này lại chia ra 7 Cảnh Giới nhỏ:


     1. Cõi Tối Thượng Niết Bàn (Plan Paramahanirvanique)

     2. Cõi Thượng Niết Bàn (Plan paranirvanique)
     3. Cõi Niết Bàn (Plan Nirvanique)
     4. Cõi Bồ Đề (Plan Boudhique)
     5. Cõi Thượng Thiên (Plan Mental Superieur).
         Cảnh Thiên Đàng hay là Cực Lạc Quốc (Plan Mental Inferieur) 

         Cõi Hạ Thiên.
     6. Cõi Trung Giới (Plan Astral). 
     7. Cảnh này ở trong lòng trái đất, nhiều Tôn Giáo gọi là Địa Ngục. 
Cảnh Trung Giới cách trái đất 400.000 cây số, cảnh Thượng Giới cách trái đất là 385.000 cây số. Với những con số nói về khoảng cách với trái đất, thì chúng ta có cảm tưởng là sự hiểu biết về vũ trụ và vật chất của nhân loại vào lúc bấy giờ có lẽ khá khiêm tốn. Thật vậy, với sự hiểu biết ngày hôm nay, thì cả kể cả đơn vị đo bằng vận tốc ánh sáng, hình như cũng chưa đủ sức để mô tả những khoảng cách trong vũ trụ.

Vẫn theo trường phái này thì nhân loại chia ra rất nhiều đẳng cấp. Nhiều người cho đây là một khái niệm, ít nhiều mang tính chất phân biệt chủng tộc.






Mục đích mà HHN phải đan cử thử một trường phái nói trên, là muốn giúp quý độc giả nhận ra một điều sau đây: Khi chúng ta thực sự Định Tâm, chúng ta sẽ đứng trước những hiện tượng, những định luật của thế giới Khách Quan Tự Nhiên. Nếu một lý thuyết, một chủ thuyết của một trường phái nào đó, mà không phù hợp, không tương thích thì chúng ta tự biến mình thành những nạn nhân. Nói một cách khác, người thiệt hại chính là mình.

Sau đây, 
HHN xin trình bày quan điểm của trường phái Phật Giáo Nguyên Thủy về vấn đề này. Chủ thuyết nào đúng, chủ thuyết nào sai, thì thực tế mới là cái thước đo chính xác nhất. Nếu quý vị độc giả khi mang điều này ra ứng dụng trên thực tế, cụ thể là ứng dụng trong lúc Định Tâm, thì sẽ phân biệt được hàng giả hay hàng thiệt. 

Việc đầu tiên là chúng ta xét về cấu tạo Tâm của bản thân mình và khả năng sử dụng những kỹ thuật để sửa sang cấu tạo Tâm của bản thân mình. Điều kế tiếp mà chúng ta phải quan tâm, đó là cấu tạo Sắc của bản thân mình, khả năng sử dụng kỹ thuật nào đó để sửa sang cấu tạo Sắc,nâng cấp cấu tạo Sắc theo ý mình mong muốn. Chúng ta còn cần đến những hiểu biết về Cảnh Giới, về những định luật Khách Quan của thế giới tự nhiên. Ngoài ra còn rất nhiều yếu tố không thể kể hết.

     Có bao nhiêu mô hình tạo ra trạng thái Định Tâm?

Nhiều vô số kể. Định Tâm có thể do chủ động, có thể do thụ động.

Người ta Định Tâm thụ động, vì do một kích thích vào giác quan của chúng ta quá lớn, vượt quá sức chịu đựng của một giác quan. Thí dụ như một tiếng nổ quá lớn, một cảnh quá hãi hùng, làm cho chúng ta mất đi ý thức. Thôi miên tạo ra trạng thái mất đi ý thức, các loại chất say cũng có thể tạo ra trạng thái mất đi ý thức, Tâm đứng im một cách thụ động.

Chủ động Định Tâm được tạo ra bởi Thiền Định. Theo quan điểm của Vi Diệu Pháp, dạng Định Tâm này là hệ quả của chú Tâm "Tầm", liên tục "Tứ", đưa đến Tâm đứng im "Nhất Tâm". 

Với kỹ thuật này, quý độc giả sẽ thấy, các yếu tố của cả cấu tạo tâm lẫn cấu tạo sắc, sẽ được giảm đi một cách đầy kịch tính. 

          
c ấ u  t ạ o  T Â M  . . . 

   * Tầm  Tứ là Tâm đi tìm và duy trì, làm triệt tiêu hai Bất Thiện Tâm là Sân Hận, Tham Dục.
Chúng ta nhận thấy ngay là, hai Thiền Thiện Tâm thay thế vào chỗ của hai Bất Thiện Tâm thuộc Cảnh Dục Giới. Đây là một kỹ thuật thông minh. Khi:

   * Nhất Tâm xuất hiện, triệt tiêu hai Bất Thiện Tâm là Hôn Trầm và Phóng Tâm (Hôn Trầm được coi như là hệ quả của Bất Thiện Tâm "Si", "Si" được coi như là một loại Tâm mê mờ, Trạo Cử …). Khi các Tâm:


   * Hỉ, Lạc xuất hiện, thì Hoài Nghi không còn hiện hữu. 


Chỉ mới ở phần này thôi, chúng ta đã thấy, kỹ thuật nói trên có thể mô tả như là một tên bắn hai chim, vừa có được những Thiện Tâm, lại làm mất đi những Bất Thiện Tâm. Bất Thiện Tâm là những Tâm xa vời mục đích Giải Thoát. Ai cũng biết Tâm Hoài Nghi là Phiền Não đứng hạng hai trong 10 Phiền Não lớn nhất của con người.

          
y ế u  t ố  S Ắ C  . . .
Yếu tố Sắc cũng thay đổi một cách rõ rệt. Cảm giác khinh an, đó là một cảm giác rất dễ nhận biết trong khi Nhập Định. Cảm giác này nói lên tình trạng Sắc (vật chất) mất đi yếu tố khối lượng(mass) và trọng lượng. Nói một cách khác, lực tương tác hấp dẫn, ít nhiều đã bị triệt tiêu. Đoàn Thực là nhu cầu ăn, mạng căn là nuôi dưỡng thân thể, cũng đã thay đổi. Khái niệm về ăn uống mất dần từ Sơ Thiền cho đến Tứ Thiền Hữu Sắc. Ở Cảnh Giới này có lẽ niềm vui là thực phẩm. Yếu tố Bản Tánh Sắc (là khái niệm về nam, nữ) bị mất đi khi người ta Nhập Định.

Nếu người tu Thiền Định có kỹ thuật tốt, có lý thuyết tốt ở bất cứ ở trường phái nào, thì có rất nhiều hy vọng đến được những Cảnh Giới mang nhiều yếu tố tích cực hơn Cảnh Giới của loài Người. Điều này rất mong quý độc giả quan tâm, suy nghĩ.

Theo quan điểm của trường phái Phật Giáo, thì còn phải tính đến yếu tố Nghiệp Lực. Và cái Tôi là chủ nhân ông của tài sản các loại Nghiệp Lực, được tạo ra kiếp này, kiếp trước và vô lượng kiếp trước nữa. 

Còn rất nhiều yếu tố khác nữa mà 
TLCS không thể kể hết trong phạm vi bài viết này. Hy vọng rằng phần trình bày ở trên, ít nhiều cũng nói lên được những yếu tố tích cực, chủ quan, đóng góp cho việc chúng ta sẽ đi về đâu trong lúc Định Tâm.

Tất nhiên ai cũng mong muốn đến một Cảnh Giới tốt hơn, nhưng chúng ta phải tự hiểu, ví von một cách bình dân là chúng ta có đủ tiền để mua một món đồ mà chúng ta mong muốn hay không. Ai cũng biết chúng ta không thể mua một món đồ đắt hơn số tiền mình có. Chúng ta không thể đến một cảnh giới cao hơn theo ý thích của mình, vì lực bất tòng tâm.

Để không bối rối khi cơ may Định Tâm đã đến, chúng ta phải có sự chuẩn bị đầy đủ về tâm tư, vốn liếng, kỹ thuật … để thực hiện mục đích mình mong muốn. 

            ả  n  h   G  i  ớ  i  .   . 
Khái niệm Cảnh Giới là một khái niệm không có trong văn hóa của người Âu Mỹ. Tương tự như vậy, khái niệm về Tâm và Sắc, hoàn toàn nằm ngoài nền văn hóa của người Phương Tây. Do đó, chúng ta là những người hấp thụ nền văn hóa Âu Mỹ, khi tiếp cận vấn đề này, bắt buộc chúng ta phải xây dựng từ viên đá đầu tiên. Thế rồi qua chiều dài của những ngày công phu Thiền Định, chúng ta hình như phát hiện ra rằng, ngoài chân trời này lại còn có chân trời khác. Dù sao chúng ta cũng may mắn, vì tương lai vẫn chờ đón chúng ta.
Để có thể giải quyết vấn đề chúng ta sẽ đi đâu và làm gì trong lúc Định Tâm, HHN sẽ đề cập tới vấn đề Cảnh Giới trong bài viết tiếp theo.

Rất mong nhận được những ý kiến đóng góp phản hồi từ quý độc giả.

Wednesday, March 19, 2014


DẪN NHẬP KHÁI NIỆM SƠ ĐẲNG về THẦN THÔNG

1. Dẫn nhập

Khi nói tới Thần Thông, người ta liên tưởng đến tu Thiền Định. Những tu sĩ Upanisad được phỏng đoán là những người tu Thiền Định đầu tiên, và do vậy Thần Thông đã là một đề tài quá cổ xưa; ít nhất cũng đã mấy ngàn năm qua.

Tuy vậy cho đến tận hôm nay, chủ đề này vẫn nóng, không những cho người tu mà cho cả các khoa học gia. Josephson là một khoa học gia và đã từng được giải thưởng Nobel vật lý, đã bỏ chuyên ngành của mình để bước vào nghiên cứu ngành tâm linh.

Tại sao ngành này lại có sức hấp dẫn như vậy? Lý do là vì đã qua nhiều ngàn năm với nhiều nỗ lực tìm hiểu nhưng người ta vẫn chưa tìm ra được câu trả lời. Bộ môn này trên thế giới không thể tìm được nguồn tài trợ, vì nhà tài trợ không biết dựa vào cơ sở khoa học nào để tài trợ. Có lẽ chỉ có vài chục nhà Bác Học được trả lương cho công việc khảo cứu bộ môn này. Và so với trên 7 tỷ nhân loại có mặt trên hành tinh thì số lượng này quả là quá khiêm tốn. 

Những bộ môn liệt kê sau đây có bản chất tương tự như nhau. Tuy nhiên nếu chỉ nghe đọc tên thì chúng ta cảm thấy nó rất khác nhau:

- Iddhi.
- Psychokinesis.
- Parapsychologgy.
- Paranormal powers.
- Supernatural powers.
- Misdiretion technique (Kỹ thuật ảo thuật).
- Pouvoir surnaturel (qui excede les forces de la nature).
- Pouvoir surnaturel (Thần Thông).
- Force magique (Thần Lực).


- Thần là Thánh Thần, là màu nhiệm, phi thường, tự tại, thù thắng, linh diệu, bất trắc không thể nghĩ bàn. Thông là vô ngại không có gì ngăn trở nổi, lưu thông tự tại. - Lực là sức mạnh phi thường (từ ngữ Thần Thông và Thần Lực được giải thích theo nguyên ngữ từ chữ Hán).

Những từ ngữ này nói chung mô tả những hiện tượng được gọi là khác thường. Những hiện tượng này được ghi chép lại từ một số tài liệu cổ xưa, mà đến nay người ta vẫn còn biết đến của hai trường phái Yoga và Phật Giáo … đặc biệt nhất là trường phái Thiền Định và Mật Giáo Tây Tạng.

Người ta thường nghĩ những trường phái này có đầy vẻ huyền bí, cao siêu, thậm chí là phép thuật kỳ lạ đáng sợ … kiểu như Milarepa đã tạo một trận “bão táp sa mạc” (phỏng theo huyền sử của đời ông). Nhưng trên thực tế, người tu Thiền Định, ngồi công phu từ 1, 2 năm cho đến 20, 30 năm … kể cả Tam Tạng ngồi cả đời, chai cả bàn tọa … chẳng đắc pháp thuật kỳ lạ gì cả; thế nên chỉ cần một Tiểu Yêu Tinh cũng bắt được Ngài.

Ngay cả những Đàn Pháp (Mandala) to lớn tốn kém, cũng chẳng thấy có gì nhiệm màu để người ta phải quan tâm. Trước kia Đàn Pháp được mô tả là chân truyền, huyền bí. Ngày nay vào thời đại @, có cả Đàn Pháp trên máy vi tính. Tất cả những chuyện trên đã khiến những người tu tập theo trường phái này, có người đã tu trên nửa thế kỷ, cũng đâm ra hoang mang mất phương hướng, chẳng biết giải quyết làm sao. Thôi thì phóng lao thì phải theo lao!

Việc này đã tồn tại trong nhiều thế kỷ - đúng hơn là đã mấy ngàn năm rồi. Ai cũng hy vọng có ngày tìm ra được câu trả lời. Chân lý vốn đơn giản. Nhưng có lẽ cũng chính tại con người lắm “mưu thần chước quỷ” nên tự hại chính mình. Lão Tử đưa ra chủ thuyết Vô Vi; còn chúng ta có lẽ cũng nên xem lại cách suy nghĩ, ứng xử của mình.

2. Những quan niệm khác nhau về Thần Thông:

Có rất nhiều quan điểm chung quanh vấn đề này:

- Không thừa nhận sự tồn tại của Thần Thông, Thần Lực. Nó tồn tại trái ngược với nền tảng khoa học mà con người thiết lập được từ thời Phục Hưng. Nếu công nhận sự tồn tại của nó, có nghĩa là bác bỏ những thành tựu Khoa học của 300 năm qua. Nó đi ngược lại các quy luật vật lý như Bảo toàn, Dẫn truyền, Tiêu hao năng lượng.

- Thần Thông, Thần Lực chỉ là mê tín dị đoan, không có, thật khó kiểm chứng, sự thật là không thể kiểm chứng được. Không đáp ứng yêu cầu của Luận  Hình Thức.
- Có người cho là trình độ khoa học hiện nay, không đủ khả năng để giải thích Thần Thông, Thần Lực. Vấn đề này nằm ngoài giới hạn của Khoa học hiện hành.
- Có người thì lại cố gắng sử dụng lý thuyết của Khoa học hiện hành, thí dụ như tác giả Barbara Ann Brennan, cũng có những tác giả người Việt Nam, để lý giải Thần Thông.
- Nếu đứng trên quan điểm của Tôn giáo của trường phái Phật Giáo, thì người ta công nhận có Thần Thông và quan niệm rằng: 
   * Thần Thông là pháp tu rất cao và khó.
   * Thần Thông không liên quan đến Nhân Quả.
- Có người cũng công nhận có Thần Thông, bằng cách sao chép những tài liệu nói về Thần Thông.
- Rất nhiều người khác, tạm mô tả là tu hành có hình thức, thường đến một nơi thờ phụng Tôn giáo nào đó, làm những nghi thức Tôn giáo và họ chẳng biết gì về vấn đề Thần Thông. Nói chung là người ta thờ ơ với vấn đề này.

3. Liệt kê các loại Thần Thông:

Quý độc giả có thể tham khảo rất nhiều tài liệu về các cách liệt kê các loại Thần Thông như kinh Patanjali, Trung bộ kinh, Vi Diệu Pháp … và còn nhiều tài liệu khác nữa.

Để tiện việc nghiên cứu, tham khảo …, chúng tôi xin được liệt kê một số - tạm gọi là khả năng Thần Thông. Phần liệt kê này, xin được chú thích thêm những từ ngữ chuyên môn để tiện cho quý độc giả khi có nhu cầu truy cập, tham khảo. Những từ ngữ sau đây có tiếng Việt, Anh, Pháp, Đức.

Xuất hồn (Out of body experience).
Thấu thị (Clairvoyance).
Thần giao cách cảm (Telepathy).
Di chuyển đồ vật (Psychokinesis), kinh sách gọi là Thần Lực.
Tiên tri (Precognition).
Hậu tri (Retrolognition).
Luân hồi (Reincarnation).
Ma quấy rối (Poltergeist).
Ma ám (Haunting).
Và còn nhiều các thể loại khác.

4. Phân loại các hiện tượng Thần Thông:

Chúng tôi tạm phân các hiện tượng Thần Thông ra làm 3 loại:   

- Các hiện tượng Tự nhiên Khách quan.
- Hiện tượng bị Nhập, từ cá nhân đến tập thể (dedoublement du personnage - Nhị trùng bản ngã).
- Thần Thông do con người tạo ra.

a. Hiện tượng Tự nhiên Khách quan: Có nhiều vô số. Để tránh chìm đắm trong quá nhiều thông tin, ta chỉ nêu ra một số trường hợp nổi tiếng điển hình: 

Chắc mọi người đều biết hiệu ứng Uri Geller, là tên của một người lính nhảy dù người Do Thái. Ông có khả năng bẻ cong chiếc muỗng bằng tư tưởng của mình. Năm 1974, trong một buổi trình diễn trên tivi, khán thính giả đang xem truyền hình tại nhà của mình thấy các vật dụng kim loại trong nhà cũng bị cong. Ông đi trình diễn khắp thế giới, gặt hái rất nhiều kết quả khả quan, kiếm được khoảng 1 triệu đô la.

Tuy nhiều ảo thuật gia cho màn biểu diễn đó chỉ là ngụy tạo, nhưng lại có những viện khảo cứu của những trường đại học tại Anh Quốc xác nhận hiệu ứng Uri Geller là có thật. Randi, một Ảo Thuật Gia thì lại không công nhận. Năm 1996 Randi quyên góp được 670.000 đô la và nói sẽ thưởng cho ai có thể làm cong được chiếc muỗng. Tiền thưởng một ngày một tăng lên, nhưng cho đến nay chẳng có ai lãnh được cả.

Thông Thiên Học có kể đến bà Blavasky từng tạo ra một vật dụng dùng để ăn cơm, nửa giống muỗng, nửa giống nĩa không rõ ràng. Quay trở lại hiệu ứng Uri Geller, có biết bao nhiêu bộ sách, bộ phim làm ra nhưng vẫn chưa có lời giải. Phải kể thêm một điều đáng gọi là kỳ lạ, Uri Geller được đăng lên trang bìa của một tờ báo cùng với lời cảnh báo “chỉ nhìn vào hình này thôi các vật kim loại cũng cong”. Sau đó có 300 cuộc gọi điện thoại xác nhận việc cong các vật dụng kim loại. 

Việc nhìn thấy hào quang của con người hay các sinh vật, từ xưa vốn được coi là một đặc sản của các Tu sĩ. Nhưng kể từ năm 1939 thì việc đó đã hoàn toàn thay đổi. Một kỹ sư người Nga tên Kirlan, trong khi sửa chữa máy điện cao tần, ông bị phóng điện. Ông nảy ra tư tưởng chụp hình các vật để trong điện trường cao tần và các vật đã phát ra hào quang. Hiệu ứng này sau đó được mang tên ông, gọi là hiệu ứng Kirlan. 

Người ta giải thích hiệu ứng như sau: Khi đặt một vật trong điện trường cao tần, thì vật đó cũng hấp thụ và phản xạ. Năm 1950 ông được cấp kinh phí để xây dựng phòng thí nghiệm. Năm 1970, George Hadjo, người Anh, phát minh ra máy chụp hào quang, phát minh này nói lên phần nào hiện tượng hào quang mà các tu sĩ từng nhìn thấy. Tuy nhiên, việc chẩn trị bằng hào quang như Lobsang Rampa từng nói tới trong những bài viết của mình, thì khoa học chưa xác định được .

Vấn đề Khí công hay còn gọi là Nhân điện … của những Thầy chữa, Võ sinh, người tu Thiền định, rất ít người có được. Một cuộc thử nghiệm tại Đại học Showa Tokyo, tỷ lệ 3/37 người có khả năng phát được tín hiệu. Người ta đo được từ 3 cho đến 4 miligauss. Ngoài ra còn ghi nhận được bức xạ nhiệt sau khi phát công, khoảng từ 20 đến 30 phút, nhiệt độ ghi nhận được ở bàn tay từ 40 C đến 60C.

- Những con Voi có khả biết trước có sóng thần. 
- Chó biết trước chủ về, mặc dù còn cách rất xa.
- Chim, Bướm di trú nhiều ngàn cây số.
- Thôi Miên được coi như hiệu ứng Mesmer vì ông đã tìm ra nó, rồi sau đó là Jean Charcote, Sigmund Freud cũng tham gia vào vấn đề thôi miên năm 1885. Đến nay người ta vẫn không hiểu, không có một lý thuyết nào đáng tin cậy để giải thích về hiệu ứng thôi miên. Vì vậy Thôi Miên hay Tác Pháp vẫn còn là ẩn số.

b. Hiện tượng bị Nhập từ cá nhân đến tập thể (Dedoublement du personnage: Nhị trùng bản ngã). Chúng ta sẽ đề cập tới 3 vấn đề:

- Tại sao bị Nhập?
- Ai Nhập vào con người?
- Nhập vào để làm gì?

Tại sao bị Nhập?

Vấn đề này đã được đề cập đến rất nhiều trong những bài viết trước. Chúng ta có thể đưa ra một mô hình phản biện khá đơn giản: Có một Chư vị bất kỳ nào đó thích tìm cách Nhập vào thân xác của một người, mà người đó giữ 4 giới cơ bản: Sát, Đạo, Dâm, Vọng không? Tại sao các Chư vị lại không thích Nhập vào? Mong quý độc giả tự tìm câu trả lời. Chúng ta có thể phát biểu gần như là một công thức sau đây: Hiện tượng bị Nhập xảy ra khi Dục Vọng của người tu Thiền Định hay Pháp Môn nào đó tương thích với Dục Vọng của một Thực Thể muốn Nhập. Một cách bình dân mà nói thì đó là “Ngưu tầm Ngưu, Mã tầm Mã”. 

Tu bất cứ trường phái nào mà giữ Giới, giảm thiểu Dục Vọng, thì chẳng có Thực Thể nào muốn Nhập cả. Thật thế, Nhập mà chẳng thỏa mãn được Dục Vọng nào cả; chẳng hạn như thỏa mãn cái Tôi, được người khác xưng tụng bằng Cô, Cậu …, biết chữa bệnh mà chẳng học trường Y khoa nào cả, chỉ bảo Tu Hành, nhưng không chỉ bảo giữ Giới … như thế thì Nhập có được ích lợi gì? Nói tóm lại, việc bị Nhập là “Dục Vọng lại gặp Dục Vọng - đó là sự đồng thuận của đôi bên”, chủ nhà mà không muốn, không mời thì không ai có thể vô nhà mình được. Hơn thế nữa, có người còn cảm thấy thích thú vì có người Nhập vào mình.

Ai nhập vào con người?

Số lượng Thực Thể có khả năng Nhập vào con người không thể kể hết. Thí dụ như Thần Quyền, Phật Quyền, cầu mong có sức mạnh khác thường để đánh thắng người khác. Rất có thể các Vong Linh là các Súc Sanh, do định luật Tương Ưng đã nhập vào mình. Có người thích chữa bệnh như Barbara Ann Brennan và bị các Thực thể là các Thầy Chữa Nhập vào. Chính bà đã xác định điều này. Có người thích viết sách về những chuyện huyền bí như Blavasky thì có các vị Chân Sư Nhập vào.

Có 1 cách chủ quan để phân biệt nếu quý độc giả đã đọc bài nói về SẮC. Chỉ cần căn cứ vào số lượng Sắc, thì chúng ta có thể phân biệt được một cách chính xác các Cảnh Giới, không lầm lộn Cảnh Giới này với Cảnh Giới khác. Nếu người học Thần Quyền cho rằng Phật Nhập vào mình, thì có lẽ quá ngây ngô và ngớ ngẩn! 

Nhập vào để làm gì?

Không cần nói quý độc giả cũng biết, ở những Cảnh Giới có hiểu biết cao hơn con người chúng ta, thì họ chẳng dại dột gì lại sử dụng thân xác vật chất. Chúng ta có bao giờ nghe nói một vị nào đó ở cảnh Tứ Thiền Hữu Sắc trở lên, mà lại nhập vào xác con người không? Trước nhất, Cảnh Giới này do trình độ Thiền Định phát triển hơn con người rất nhiều, phần Nhãn thấu suốt nhiều vấn đề, Cảnh Giới gần như không còn khổ đau, thì một logique đơn giản là Nhập vào thân xác con người liệu có lợi gì?

Lá thư sau đây là bản tin thời sự mới nhất (ngày 16/8/2012), mời quý độc giả tham khảo và ứng dụng những gì mà bài viết này nói về vấn đề nhập. Chúng tôi không dịch để giữ tính chất trung thực, kèm theo cả “hình minh họa”.
(an image of what these aliens look like)

They "repair" him, he never gets sick, but they do many painful and ugly things to him ... like putting their hands into his stomach or his head. He told me that he sometimes managed to kill some aliens. He can also withstand their paralysis ... so I want to ask you to find out what these beings want from him and why they always visit him every night and visit any person that are his friends or family. I also sent you an image of what these aliens look like.

c. Thần Thông do con người tạo ra:

Đối với các hiện tượng thiên nhiên trong giai đoạn bình minh của lịch sử, tổ tiên của loài người cảm thấy quá nhỏ bé trước các thảm họa thiên nhiên: sấm, chớp, lụt bão v.v… Con người có thể có 3 khả năng sau đây:
                          Do kém hiểu biết, sợ hãi, van vái cầu xin các vị Thần Sấm, Thần Sét … có thể đó là nguồn gốc của Đa thần. 
                         Kỹ thuật đẻ ra do yêu cầu của cuộc sống, vào hang động tránh mưa gió, chế tạo vũ khí để tự vệ và săn mồi. 
                           Có những người lại nghĩ ra cách khác, không chống lại thiên nhiên. Ngược lại, họ hòa nhập vào thiên nhiên. Có lẽ lịch sử của Thiền Định đã bắt đầu như thế. Với việc Tĩnh Tọa, Trầm Tư Mặc Tưởng về điều gì đó, bỗng nhiên họ rơi vào trạng thái Nhập Định. Thế rồi cùng với chiều dài lịch sử, kỹ thuật Thiền Định dần được cải tiến, phát xuất từ thực nghiệm. Do đó, nếu chúng ta nghiên cứu thực sự những tài liệu cơ bản, sẽ phát hiện ra những lời nói được gọi là Kinh, phát xuất từ kinh nghiệm. Sau đó lý thuyết được xây dựng dựa trên chính kinh nghiệm thực tế đó. Công thức của trường phái Phật Giáo, cũng như trường phái Yoga, thực sự chỉ là những bản photo. Tiến trình Nhập Định hoàn toàn giống nhau:

- Raja Yoga: Dharana, Dhyana, Samadhi.
- Phật Giáo: Tầm, Tứ, Nhất tâm.

Sau đây là công thức tu Thiền Định:

- Raja Yoga: Kỷ luật bản thân, Kiểm soát tinh thần, Tham Thiền Nhập Định.
- Phật Giáo: Giới, Định, Huệ.

Lúc nào thì Thần Thông xuất hiện?
                            Raja Yoga: Samyama gồm 3 bước: Dharana, Dhyana, Samadhi. Thần thông xuất hiện ở giai đoạn Samahdi.
                            Phật Giáo: Cũng không khác gì Raja Yoga. Thần Thông là hệ quả tất yếu của Tứ Thiền Hữu Sắc.
Lúc này người tu Thiền Định có 1 loại thân xác gọi là Hữu Sắc của hệ thống Thiền Hữu Sắc. Ở hệ thống này, Tâm và Thân của người tu Thiền Định hoàn toàn khác với lúc mới ngồi để bắt đầu Thiền Định.

Chúng ta thử thuyết minh cho rõ phần này:
Thân Tâm lúc ngồi để tu Thiền Định
     * Tâm: Cấu tạo bằng nhiều trăm Tâm. 
     * Thân: Có ít nhất 28 Sắc Pháp. 
Thân Tâm này cần phải ăn ngủ để tồn tại, sử dụng trong cảnh Dục Giới, cảnh Thế gian, trong các cử động vật chất và trong các cử động tinh thần.
Thân của Thiền Hữu Sắc: 
     * Tâm: Chỉ còn 50, giảm xuống còn 2, 3 tâm. 
     * Thân: Chỉ còn 23 Sắc Pháp hoặc ít hơn nữa. 
Nếu vô tình bước vào Vô Tưởng Định, số Sắc Pháp còn ít hơn nữa, thân này sống bằng Hỷ Lạc (không phải là thực phẩm, nước uống, không khí). Sắc Pháp tế nhị, hình dáng lờ mờ, lúc có lúc không. Cụ thể không có thân, không có miệng, mũi, có khi không có mắt (vì không cần nhu cầu thực phẩm, nước, không khí). Thân Tâm này sử dụng trong cảnh Hữu Sắc, đôi khi là Vô Tưởng, các động tác của loại Thân Tâm này chính là cái người ta gọi là “Thần Thông”. 
Sẽ là một sai lầm rất lớn nếu người ta tưởng các Thần Thông là cử động của Thân Tâm Dục Giới. Thật vậy, khi ngồi công phu, sau khi thật sự Nhập Định, chúng ta có thể đi từ nơi này đến nơi kia nhanh hơn cả vận tốc ánh sáng, chúng ta có thể đi xuyên qua tường, xuyên qua cửa một cách vô ngại, nói không dùng miệng, không có âm thanh mà vẫn hiểu rõ ràng, không gian xa gần không trở ngại, biết quá khứ vị lai, hiểu được tâm ý dễ dàng …

Những động tác tinh thần và Sắc nói trên của Thực Thể Thiền Hữu Sắc chỉ là những động tác bình thường, cơ bản, bền vững, chẳng có gì là Thần Thông cả. Do đó, có thể có nhiều quý độc giả, nếu thực sự đắc Thiền Hữu Sắc, thì tất nhiên đã có những động tác Tâm, Sắc bình thường, nhưng đó là Thần Thông thực sự mà quý độc giả vô tình không biết. Rất nhiều người lầm tưởng đó là Thần Thông thuộc về Thân Tâm Dục Giới. Điều này tuyệt đối mâu thuẫn và sai lầm so với lý thuyết Phật Giáo cũng như Raja Yoga. Thần Thông xuất hiện ở Samadhi hoặc Tứ Thiền Hữu Sắc (nhất tâm: Samadhi). Không có tài liệu chính qui nào nói về Thần Thông xuất hiện ở Thân Tâm thế gian, Dục Giới 

Lý thuyết về Luồng Tâm Thức của Vi Diệu Pháp lại một lần nữa khẳng định vấn đề này một cách rõ ràng và chắc chắn, không thể lầm lẫn được. Thần Thông xuất hiện ở giai đoạn Javana Tốc Hành Tâm (lúc Nhập Định) - thuộc hệ thống Thiền Hữu Sắc - không hề có tài liệu nào nói Thần Thông xuất hiện trước khi Nhập Định, lúc người tu đang ở cảnh thế gian, Dục Giới … xin quý độc giả vui lòng xem lại Trung Bộ Kinh, các bộ Vi Diệu Pháp, chân ngôn Patanjali.

Đây có thể là một tin mừng cho một số quý độc giả lâu nay tưởng lầm là mình tu tập chẳng có kết quả gì cả. Cũng thông tin này, lại có thể có một số quý độc giả lâu nay tưởng lầm rằng mình đắc Thần Thông, nhưng thật ra là Thần Thông của Tha Lực, không phải thực sự do định lực mà có. Đa nhân cách là một hiện tượng rất phổ thông.

Sự thật Thần Thông theo quan điểm của Phật Giáo và Raja Yoga không phải là mục đích di sơn, đảo hải, sờ mặt trăng mặt trời, bay trên mây. Mục đích thực sự của tu Thiền Định là đạt được sự Minh Triết. 

Câu 5: (Phần 3 của Kinh Patanjali đã ghi rõ) Thực hiện được Samyama là tiến đến giai đoạn tri giác. 
Câu 9: Tinh thần tự chủ đó là trạng thái tinh thần phát huy quyền lực trên mọi biến thể. Đây là những câu mở đầu cơ bản nhất của chương nói về thần thông. Trường phái Phật giáo cũng định nghĩa về thần thông: Thông tuệ, Trí tuệ, Thông suốt, biết mình và người trong, ngoài. Tóm lại, cả hai trường phái đều gặp nhau trong một từ chung: Minh Triết. 
Câu 51: Từ bỏ Thần Thông đã có, thì diệt được các điều xấu xa đi đến đích giải thoát, tự do.

5. Tập luyện Thần Thông khó hay dễ? Hậu quả của Thần Thông ở mặt tích cực, tiêu cực là gì và Thần Thông nào là cao nhất?

     a. Tập luyện Thần Thông khó hay dễ còn lệ thuộc vào việc người ta quan niệm thế nào là Thần Thông.

- Những hiện tượng tự nhiên khách quan như có người có thể hút các đồ vật, làm toán rợ … thì chẳng cần phải tập luyện gì cả.

- Dựa vào các Thực Thể, các Chư vị ở các Cảnh giới khác thì cũng không phải tập luyện gì nhiều. Người ta thường gọi đó là bị Nhập: lên Đồng, ,Cậu, Trạng … Rất nhiều người gọi là tu Thiền Định cũng ở trạng thái này; trong đó có những tập thể như: Phật Giáo Cao Đài, Subut, La Ti Thăng …

- Tu Thiền cũng như Thôi Miên, thực sự sử dụng Định Lực của chính mình, tập trung tư tưởng, để làm cái gì đó lại là một vấn đề khác hẳn - Quý độc giả nào tự mình tập luyện để đạt được một khả năng nào đó, chắc chắn đã thấy việc tập luyện không phải là dễ - Tập Thần Thông không phải là chuyện dễ dàng, tự nhiên mà có, nó cũng phải đi qua rất nhiều giai đoạn, mất rất nhiều thời gian, công sức …

Nếu chúng ta qui ước với nhau phát biểu sau đây: “Thần Thông là những cử động của Sắc và Tâm của các Thực Thể ở các Cảnh Giới khác với Cảnh Giới loài Người”, thì với phát biểu này, người tu có quyền chọn lựa khá rộng rãi: Từ Thần Quyền … cho đến tập luyện nhãn của các vị ở cõi Thiền Hữu Sắc, kể cả ở các cõi cao hơn nữa, đó là sự tùy chọn của quý độc giả.

Chúng ta đã định nghĩa “Thần Thông là cử động của Tâm và Sắc …”. Cử động, đi, đứng … cũng phải tập từ từ, từ bò đến đi chập chững rồi mới chạy nhảy … thì ở cảnh giới khác cũng vậy. Ở cảnh Dục Giới thế gian có em bé nào - dù là ThầnĐồng - 12, 13 tuổi mà lái được máy bay Tiềm kích, Trực thăng … bao giờ đâu! Đào tạo phi công tiềm kích, trực thăng … không phải chuyện đơn giản.

     b. Hậu quả của Thần Thông:

Chỉ duy nhất trong lúc đang Nhập Định, chúng ta phát hiện ra một loại Thân Tâm mà mình vốn có, đó là Tâm và Sắc của hệ thống Thiền Định Hữu Sắc. Trong trạng thái này, Thân Tâm của người tu Thiền Định, ngồi im bất động, chỉ có tác dụng là một công cụ hữu duyên, tạm thời. Thân Tâm ở cảnh Hữu Sắc này có những sinh hoạt hết sức bình thường, con người chúng ta lại gọi là Thần Thông, đây là một loại Thần Thông không phải xuất phát từ Dục Vọng, không cầu, không mong, chỉ là quả báo tất yếu của Thiền Hữu Sắc. Vậy mà Vi Diệu Pháp vẫn coi những Tâm này có tính chất Dị Thục có nghĩa là tạo ra Quả Báo, cũng may là Thiện Quả.

Lại có một loại Thần Thông do các Thực Thể ở cảnh Dục Giới, xuất phát từ Tâm Tham Ái, Chấp Ngã do tin tưởng mình có một cái Tôi thực sự, trường tồn, hạnh phúc  Loại Thần Thông do Tâm Mạn thực sự là một cuộc chạy đua vũ trang trên vòng đua Olympic, mang tên cuộc đua Thập Nhị Nhân Duyên”, còn gọi là vòng đua của Luân Hồi Sinh Tử hay vòng đua của Thần Chết, mà đích đến là Địa Ngục trong chính Tâm của mình. Đó là một trò chơi giải khát bằng rượu độc.

Thần Thông  Phiền Não là một hàm số đồng biến. Thần Thông phát triển thì Phiền Não tăng trưởng, chẳng làm gì trong lòng cũng buồn phiền một cách kỳ lạ. “Đoạn trường ai có qua cầu mới hay”. Quý độc giả nào từng trải qua việc tập luyện Thần Thông thực sự sẽ cảm nhận được tâm trạng này. Truyền thống Phật Giáo, cũng như Raja Yoga luôn cổ vũ, để có Tâm “Duy Tác”. Raja Yoga khuyến dụ tu sĩ phải từ bỏ Thần Thông, bỏ Tâm Mạn, đừng nghe lời nịnh hót của Thần Thánh, nếu muốn giải thoát.

     c. Thần Thông nào cao nhất?:

Thần Thông cao nhất có lẽ là không có Thần Thông, vì Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc, điều này người tu ai mà chẳng biết. Thật vậy, bước ra khỏi vòng Luân Hồi Sanh Tử thì Thần Thông dùng để làm chi? Một nơi không có chiến tranh, thì vũ khí dùng để làm gì? Cổ nhân từng nói “Quân tử phòng thân, tiểu nhân phòng gậy”. Thần thông chỉ có giá trị ở một môi trường, một tập thể nhất định nào đó mà thôi!

Chúng ta thử tưởng tượng một kịch bản hư cấu như sau: Có một hôm, ti vi khắp thế giới thông báo, Tổng thống của một số nước: NgaIranSeryaNorth Korea, … đồng loạt tuyên  bố “I have no ego” (tôi không có ngã) … cổ phiếu khắp thế giới sẽ tăng vọt như diều gặp bão! … 11 Hàng Không Mẫu Hạm của Mỹ, F35, F22, trực thăng Hybrid Osprey V22, Apache Block III mang ra sale off … Thần thông của người tu thiền định lúc đó … cũng phải "For Lease" … vì không còn việc phải dùng. Địa đàng Eden không có kho để tồn trữ Thần Thông và vũ khí. Bách khoa từ điển Wikipedia tại Eden không có từ ngữ chiến tranh, quan trọng hơn nữa không có chữ: ICH, IO, JE, I, NGÃ, TÔI, …

6. Nhóm HHN không có ý định chống lại khoa học hiện đại  đại diện cho Satan.
   
Qui luật tư duy hiện đại giúp gì cho bộ môn này?

     * Qui Luật Tư Duy (mà chúng ta đang sử dụng) thực sự có chắc là phản ánh được TOÀN BỘ, TRUNG THỰC, CHÍNH XÁC thế giới Tự Nhiên Khách Quan không?
     * Nhiệm vụ của Qui Luật Tư Duy (luận lý hình thức) là cây cầu nối giữa qui luật logic và thế giới Tự Nhiên Khách Quan - Cây cầu nối này thực sự có làm tốt được sứ mệnh của mình 100%? 
     * Toán học chỉ là một dạng cụ thể hóa, hữu hình hóa, ngôn ngữ hóa, những Qui Luật Tư Duy chủ quan của con người, chứ chưa chắc cụ thể hóa, hữu hình hóa, ngôn ngữ hóa các qui luật tự nhiên của thế giới khách quan. Chính bản thân Qui Luật Tư Duy của con người lại chẳng biết dựa vào đâu! Có người bảo: “dựa vào thực tế khách quan …”

Do đó, phát biểu của Stephen Haw King “Một lý thuyết khoa học là một mô hình toán học mô tả và chuẩn tác hóa được các quan sát” và coi đây là một lý thuyết “tốt”. Đây là một hướng đi đúng, hay là một sai lầm lớn lao mang tính cách lịch sử, làm phương hại đến tiến hóa của nhiều tỷ người trên hành tinh này?

Có thể có rất nhiều hệ thống, Qui Luật Tư Duy khác, hoàn toàn không cần đến ngôn ngữ toán học. Hay nói một cách khác, toán học sản phẩm tư duy của con người không có chỗ đứng trong nhiều hệ thống tư duy khác. Thí dụ điển hình: 
     * NOSTRADAMUS
     * VANGA
Những người này không cần và không thể sử dụng công cụ toán học. Họ sử dụng một hệ thống Qui Luật Tư Duy khác. Trong tác phẩm “Những thế kỷ”, chúng ta không thấy một dấu vết nào của toán học. Vanga “l' horacle Bulgarie” nhà Tiên tri Bulgarie khiếm thị - được gọi là “sage de la campagne” (thông thái nhà vườn) - có lẽ không biết đến bộ môn toán học hiện hữu trên đời này.

Khả năng tiên tri (precognition) của hai vị này chẳng liên quan đến một mi li mét trường phái toán học nào cả. Người chết có lẽ có bức xạ tàn dư để có thể trông thấy, còn tương lai thì có bức xạ nào? Có lẽ khoa học hiện đại sắp nói lời chia tay với con người. Phần nhận xét xin dành cho quý độc giả.

Thay lời kết:

Có Tài mà cậy chi Tài,
Chữ Tài liền với chữ Tai một vần,
Đã mang lấy nghiệp vào thân,
Cũng đừng lẫn trách Trời gần, Trời xa,
Thiện căn ở tại lòng ta,
Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tài,
Lời quê chắp nhặt dông dài,
Mua vui cũng được một vài trống canh.
(Kiều - Nguyễn Du)



Friday, March 14, 2014


Sao Mai says:

Chào chị HHN!

Thưa chị ! Đầu đề này có quá nhiều từ ngữ chuyên ngành bằng tiếng nước ngoài, em mong chị giải thích để mọi người có thể hiểu rõ hơn. Em cũng hiểu nỗi khó khăn của chị, vì nhiều từ ngữ chuyên ngành không có từ ngữ chuyên môn bằng tiếng Việt Nam tương đương.

HHN says:

Vâng! Chị sẽ làm theo yêu cầu của em, yêu cầu này tất nhiên là chính đáng. Topographie có nghĩa là: mô tả chính xác và chi tiết một nơi đặc biệt nào đó. Das ich: cái tôi, trong bộ máy tâm lý của con người. Theo phân tâm học, thì đó là sự tập hợp của ba cái tôi. Cái tôi Das es (tiếng Đức) - là cái tôi mang tính chất bẩm sinh, mô tả việc muốn thỏa mãn các yêu cầu  của mình. Cái tôi Das ich: là cái tôi nằm ở khu vực ý thức (khác với cái tôi Das es nằm ở khu vực vô ý thức). Cái tôi này mang tính chất hợp lý, dung hòa nhu cầu của cái tôi Das es và cái tôi siêu ngã (uber ich). Cái tôi Das ich có một tính chất đặc biệt và quan trọng nhất là: tự bảo vệ sự tồn tại của một cá thể nào đó trước những sự đe dọa hay có thể bị đe dọa đến sự tồn tại của một cá thể. Chúng ta rất cần phải hiểu bản năng cái tôi này. Trên cơ sở này, chúng ta sẽ hiểu vị Phật A Di Đà đã đáp ứng bản năng cái tôi ra sao. Cũng từ đây, chúng ta phát hiện ra trường phái Phật giáo nguyên thủy không đáp ứng được yêu cầu này của bản năng cái tôi.

Sao Mai says:

Mặc dù chị có giải thích. Tuy nhiên, đây là những kiến thức chuyên ngành và tất nhiên nó đòi hỏi phải có thời gian để tiếp thu và chuyển hóa. Kể cả đến ngày hôm nay, những bộ môn khoa học này dường như vẫn còn rất xa lạ với hầu hết mọi người. Thậm chí đối với cả giới y khoa.

Theo em hiểu, nói đến hệ phái Tịnh Độ là làm người ta liên tưởng tới Vị Phật  A Di Đà. Cách tu tập khá đơn giản, chỉ gồm có 3 chữ A Di Đà; hay 4 chữ A Di Đà Phật; hoặc đọc 6 từ là: Nam mô A Di Đà Phật; cùng 48 lời nguyện, với một đất nước cực lạc như một vùng đất hứa.

          Nếu chủ thuyết này quá đơn giản như vậy thì làm sao lại có thể hấp dẫn rất nhiều người; tồn tại cùng lịch sử của nhân loại và phát triển cho đến ngày hôm nay? Trong khi Phật giáo nguyên thủy mà chúng ta không thể phủ nhận là một chủ thuyết uyên bác, đầy tính chất hàn lâm, luận cứ chặt chẽ lại từ từ bị thu nhỏ lại. Thậm chí ngày hôm nay dường như biến mất ra khỏi sân chơi của trường phái Phật giáo.

HHN says:

Điều em vừa trình bày đến đã phản ảnh ít nhiều thực trạng của trường phái này, ít nhất là trong cộng đồng người Việt Nam. Chắc chắn trường phái này phải có cái gì đó đáp ứng được nhu cầu nào đó, nên nó tồn tại và phát triển như hôm nay mà mọi người đều biết đến.

Để tìm hiểu về chủ đề nói trên, chúng ta thử vận dụng một số trường phái phân tâm học và tâm thần học. Và để bắt đầu, chúng ta tìm hiểu hai vấn đề nêu sau:

-         Mặc cảm tự ti
-         Sự sợ hãi.

Theo chủ thuyết của chuyên gia Alfred Adler, thì con người bẩm sinh đã chứa đựng tình cảm tự ti - cụ thể là mặc cảm tự ti. Chúng ta tự ti từ vật chất cho đến tinh thần - nếu mang ra so với tiêu chuẩn bình thường về lượng cũng như về phẩm (hay còn gọi là chất).

Chúng ta có khuynh hướng bẩm sinh là trung hòa khuyết điểm này. Thiên tài là kết quả thực sự của việc vượt qua chính sự yếu kém của mình. Chúng ta sử dụng một cách có tính toán những chiến thuật để gia tăng khả năng và giá trị của bản thân. Vẫn theo chuyên gia phân tâm học Alfred Adler thì những tình cảm tự ti đã gắn kết với thân phận con người. Hễ sinh ra làm người là có nghĩa  chúng ta đã có sẵn những mặc cảm tự ti. Chúng ta liên tục tìm cách để chiến thắng chính bản thân mình; chiến đấu để tự bảo vệ mình,  và để tạo ra sự cân bằng tinh thần và vật chất. Chúng ta nỗ lực hướng về việc hoàn thiện chính mình. Có lẽ định luật cơ bản của cuộc sống là: chiến thắng những sai sót hay thiếu sót của chính bản thân mình. Cuộc sống có thể được coi như là một cuộc chiến hướng về mục đích thích ứng với những yêu cầu của thế giới tự nhiên. Với mặc cảm tự ti như vậy, con người tìm cách để vượt qua những yếu kém bằng cách tạo ra cho mình một lý tưởng không tưởng (un ideal utopique) và không thực hiện được.

Con người sử dụng những kỷ thuật nào để bù đắp vào mặc cảm tự ti ?

Những tình cảm tự ti, vô khả năng, đầu óc chật hẹp, sự yếu đuối, phân vân… đòi hỏi phải có sự bù đắp. Nó được thực hiện dưới hình thức “Tối đa hóa về ý thức cái tôi” (maximisation de la conscience du moi) để vượt qua những người khác. Khát vọng này của con người được thực hiện bằng những hình ảnh của đấng toàn năng (être omnipotent, toutes-puissantes). Con người tìm cách vượt lên ngang hàng, thậm chí là vượt qua những đấng siêu năng kể trên. Thực tế cho chúng ta thấy, người tu ở bất cứ trường phái nào cũng đều hay có tâm lý biến mình thành một giáo chủ. Họ tự nhận mình là bậc thầy, là chân sư…Thậm chí là có một vị trí cao hơn một số vị Phật nào đó trong trường phái Phật giáo. Việc này chúng ta có thể quan sát trên thực tế.

Nỗ lực của con người nói chung là chiến thắng sự mặc cảm tự ti của chính mình - nhằm đạt được sự an toàn và cho phép thích ứng với yêu cầu của đời sống.

Chính những lý do nói trên cùng với những yêu cầu của bản năng tự nhiên của con người, vị Phật A Di Đà đã đáp ứng được một cách tuyệt vời. Còn hơn thế nữa, với 48 lời nguyện, thì người ta lại càng cảm thấy sự an toàn (la securite), quên đi mặc cảm tự ti - mặc cảm này như một cách tra tấn con người về mặt tinh thần, từng làm cho cuộc đời của con người trở nên không thể chịu đựng nổi.

Thật không quá đáng nếu chúng ta có thể nói rằng vị Phật A Di Đà chính là chiếc phao cứu sinh cho trường phái Phật giáo nguyên thủy, đấng cứu thế cho các tín đồ Phật giáo.

Sao Mai says:

Theo như những phần chị vừa trình bày ở trên, thì em có một suy nghĩ rằng đời sống tình cảm con người chứa chấp khá nhiều mặc cảm ẩn sâu trong tiềm thức. Đó là những cuộc chiến nội tâm khốc liệt, hoàn toàn có khả năng đưa con người đến trạng thái rối loạn tâm lý. Em thiết tưởng rất có thể vì những tâm lý mặc cảm của con người mà chúng ta vừa nhắc đến đã làm các tôn giáo ra đời. Mà các tôn giáo chính là liều thuốc an thần để ít nhiều giảm đi nỗi đau về tinh thần của con người.

           Em không hiểu còn có yếu tố nào khác về tâm lý mà con người cần những liều thuốc an thần như dạng tôn giáo không?

HHN says:

          Đúng vậy, bộ môn Psychiatrie lại cung cấp cho chúng ta những thông tin khác nữa. Bộ môn này thường được người ta gọi là tâm thần học mô tả. Thật vậy, lúc đầu bộ môn này cố tìm cách sắp xếp, hệ thống hóa những bệnh nhân tâm thần ở các dạng khác nhau. Nhưng sau đó người ta phát hiện ra có hai triệu chứng cơ bản và phổ quát ở hầu hết các bệnh nhân tâm thần là:

-         La Peur
-         L’ Angoisse

Kính thưa quí độc giả cùng Sao Mai!

Em xin phép phỏng dịch hay đúng hơn là giải thích hai từ ngữ nói trên, vì nếu dịch theo từ điển thì nó không phù hợp với nội dung cuả bộ môn này. La Peur có nghĩa là nỗi sợ hãi do một sự kích thích ở thế giới khách quan đơn thuần. Nó nằm ở khu vực ý thức của con người. L’Angoisse  là sự hoảng sợ. Cái sợ này có cường độ cao hơn, trường độ dài hơn và nằm ở khu vực vô ý thức. Angoisse là một trạng thái khó chịu, nó như bóp nghẽn hơi thở, làm cho ta ngộp thở. Nó tạo ra sự ngộp thở tinh thần (qui étrangle, qui étouffe, qui provoque une souffrance mentale). Đó là một trạng thái căng thẳng và ở mức độ nguy hiểm cao độ. Đó là tín hiệu của sự nguy hiểm, là một trạng thái mất an ninh, cảm xúc sợ hãi.

Sự hoảng sợ, sự sợ hãi, sự ám ảnh, ảo giác… là một loạt những biểu hiện mà người ta gọi chúng là những biểu tượng của những sự rối loạn về tâm lý. Chúng ta nên ghi nhận chúng như những triệu chứng chứ không phải là nguồn gốc của một loại bệnh tật tâm lý nào đó. Trong tâm thần học, người ta tìm cách để tìm hiểu về nguồn gốc của các triệu chứng nói trên. Người ta cho rằng sự hoảng sợ nằm ở khu vực vô thức của bệnh nhân. Cụ thể là, bệnh nhân thường cảm nhận có cái gì đó sẽ nổ bùng trong họ. Họ hoảng sợ vì những lực không thể chống đỡ và đầy đe dọa. Sự hoảng sợ lan tràn trong khắp cơ thể tinh thần và vật chất của con người. Sự hoảng sợ thường kèm theo những ác mộng. Nó làm cho con người sụp đổ hoàn toàn, bất lực, tăng nhịp tim, toát mồ hôi…

Ở đây chúng ta chỉ lướt qua và nhắc sơ qua về nguồn gốc của sự hoảng sợ. Người ta cho là sự hoảng sợ đã bắt đầu có từ khi con người còn rất nhỏ. Ba vùng trong cơ thể là nguồn gốc của sự hoảng sợ là:

- La zone orale : khu vực miệng
- La zone anale: khu vực hậu môn
- La partie sexuelle: phần bộ phận sinh dục.

Chúng ta thử tìm hiểu sơ qua ba vùng nói trên. Ba vùng nói trên trong tiến trình phát triển của con người đều có nhu cầu cần được thỏa mãn. Nhưng việc thỏa mãn không phải luôn luôn được đáp ứng đúng lúc, đúng lượng và chất. Một em bé có nhu cầu bú sữa. Cái tôi Das es muốn được thỏa mãn ngay lập tức, nhưng không phải lúc nào cũng được thỏa mãn theo đúng cái yêu cầu của Das es. Ví dụ như mẹ phải đi làm, mẹ bận quá…Em bé mang tâm trạng bị bỏ rơi, bị cô lập, không biết nương tựa vào ai đã hoảng sợ vì nhu cầu không được thỏa mãn. Đến khi có nhu cầu để bài tiết, nếu bài tiết không đúng lúc bị mẹ mắng, bài tiết không đúng chỗ cũng có thể bị phạt, điều này có thể tạo ra sự hoảng sợ cho em bé. Những hiện tượng tương tự nói trên cũng xảy ra cho bộ phận sinh dục. Đó có thể là nguồn gốc của sự sợ hãi.

Con người phải tìm nhiều cách để giải quyết vấn đề sợ hãi này. Lại một lần nữa chúng ta thấy nhân vật Phật A Di Đà với 48 điều cam kết, thì đã giúp cho những sự sợ hãi, hoảng sợ của con người được đáp ứng. Con người cảm thấy an toàn, thích ứng được với thế giới xung quanh.

Sao Mai says:

Qua phần trình bày nói trên, có lẽ bản thân em cũng như nhiều quý độc giả - khó có thể tưởng tượng được tính chất cơ học của tâm lý con người lại rối ren, phức tạp đến như vậy!

Tóm lại vị Phật A Di Đà phải bảo là đấng cứu thế cho tín đồ cũng như trường phái Phật giáo.

Xin cảm ơn và trân trọng kính chào quý vị độc giả!

Sao Mai.

Bài viết này chỉ là ý kiến của một cá nhân, không phải là một chuyên gia. Không được bất cứ một cơ quan hữu trách nào xét duyệt. Do đó, tuyệt đối không có giá trị xét ở bất cứ góc cạnh nào, rất mong được quí độc giả thông cảm.