Friday, March 21, 2014


Có lẽ tấn thảm kịch lớn nhất của con người là việc sinh ra và chết đi mà không có một sự chuẩn bị nào cả. Nếu giả định có một vị Thượng Đế nào đó đã tạo ra con người như một phiên bản, một tác phẩm nghệ thuật, thế thì thật tình chúng ta nên phàn nàn, kêu ca. 

Ai cũng biết bất cứ một sản phẩm chính quy bất kỳ nào, khi được sản xuất ra thì đều phải có một tài liệu kèm theo hướng dẫn cách sử dụng, những trở ngại, cách sửa chữa, và địa chỉ bảo hành  Thế nên nếu xét trên phương diện đánh giá tiêu chuẩn chất lượng hàng hóa này, Thượng Đế thật vụng về và thiếu sót khi tạo ra một sản phẩm mà không hề có một tài liệu hướng dẫn sử dụng kèm theo.

Chúng ta ra đời với đầy rẫy những mặc cảm, những bản năng … mà chúng ta không hề hay biết. Có lẽ không phải là sai khi triết học hiện sinh đánh giá con người chúng ta là khách lạ.

Con người đã cất tiếng khóc khi chào đời, tiếng khóc như một tín hiệu cho biết một Thực Thể hiện hữu ở một không gian mới. Nói tóm lại, chúng ta không biết gì về mình cả. Tác nhân đáng trách nhất có lẽ là một vị Thượng Đế nào đó, ít nhất ngài cũng phải gắn cho mỗi con người một tấm giấy nhỏ, ghi rõ tối thiểu về những tính năng của một sản phẩm như:

- Thực Thể này chỉ sử dụng tốt trong không gian ba chiều. Cài sẵn phần mềm là chương trình Luận Lý Hình Thức (điều này Aristote đã phát hiện ra từ thuở sinh thời).
- Giới tính: Nam, Nữ, Trung tính (điều này văn minh Ấn Độ và Trung Hoa từng đề cập đến).
- Loại Thực Thể: Con người.
- Công suất cực đại: Không cho biết.
- Momen xoắn cực đại: Không cho biết. (Mô-men xoắn đặc trưng cho khả năng chịu tải tức thời của động cơ).
- Sản phẩm này có thể chỉ sử dụng trong điều kiện thông thường, không sử dụng để đánh nhau vì có thể gây hư hỏng, bị thương hoặc chết.
- Không được sử dụng để tu Thiền Định (vì tu Thiền Định sẽ phát hiện ra được Sự Thật, Chân Lý, biết rõ Thượng Đế không hiện hữu nên sẽ bể mánh).  
- Nếu sử dụng sai chỉ dẫn, sẽ không được bảo hành.

Để bù đắp sự thiếu sót của Thượng Đế và tính hay quên của Ngài, các luận sư của truyền thống Phật Giáo đã biên soạn ra tài liệu Vi Diệu Pháp. Có thể nói đây là cẩm nang để sử dụng con người. Trong khoa học tự nhiên, mô hình nguyên tử đã được các nhà khoa học Hy Lạp biết đến từ lâu, nhưng lại bị chìm vào quên lãng. Phải đợi đến nhiều thế kỷ sau, người ta mới bắt đầu nhớ lại. Số phận của tài liệu Vi Diệu Pháp cũng chẳng may mắn gì hơn, dường như cũng bị lãng quên trong nhiều Thế kỷ. Chính cuộc khủng hoảng trong bộ môn Thiền Định đã là động cơ làm cho Vi Diệu Pháp phải hồi sinh. Thật vậy, khoa học tự nhiên, tâm lý học, tâm lý phản xạ, y học ... đều bất lực trước việc lý giải các hiệu ứng: Cận Tử, Thiền Định v.v...

Dựa trên cơ sở Vi Diệu Pháp, dựa trên quan sát các hiện tượng của thế giới tự nhiên, “Giả thuyết Tâm lượng tử” cần thiết phải ra đời, để lấp đầy chổ trống, khoảng cách mà các bộ môn khoa học khác chưa đáp ứng được. Để tiếp cận với vấn đề này, cần phải xác định hệ quy chiếu và quan sát viên. Quan sát viên ở đây là một Thực Thể bất kỳ; là con người hiện hữu trong một không gian ba chiều. Đây là một khái niệm thường được mặc định như vậy. Người ta cũng mặc định với nhau là Luận Lý Hình Thức với 4 quy luật cơ bản và những loại lý luận phổ thông, là công cụ cơ bản của một tri thức luận được mô tả là lành mạnh.

Ta nên cảnh giác, một Thực Thể khác, ở một khung tham khảo khác, các hiệu ứng sẽ không còn giống như hệ quy chiếu chúng ta đang hiện hữu. Thí dụ: Người NhậpĐịnh thấy quá khứ, tương lai (căn cứ vào tài liệu trường phái phật giáo, thì đó là hệ quả tất yếu của Tứ Thiền Hữu Sắc) vì họ đã chuyển qua những chiều không gian khác, có một hệ thống tri thức luận khác. Chúng ta thử xét một Tâm có tính chất "Vương" của con người (Tâm Vương): Ghét hoặc Yêu.

Ghét:
     Khi đã ghét nhìn dơi hóa chuột,
     Muốn lấy cuốc đào đất chôn luôn,
     Gặp nhau chi để chán chường,
     Ghét cay ghét đắng con đường đã đi.

Yêu:                 
      ... cũng ham giải thoát,
     Nhưng chợt đâu lại thấy bóng Kiều,
     Giật mình mới biết đang yêu,
     Niết Bàn thôi cũng bỏ liều cho ai!

Tâm lý học kinh viện đã dạy chúng ta rằng yêu và ghét, khoái lạc và đau khổ là hai thái cực của đời sống tình cảm của con người, thần tiên cũng không tránh khỏi và buộc chúng phải sống chung với nhau suốt đời. Loại Tâm này được mô tả như là món nợ lớn nhất của đời người. Loại Tâm kể trên được Vi Diệu Pháp đề cập ở những trang đầu tiên. Biểu tượng trái tim thay cho tất cả các loại ngôn ngữ.


PHƯƠNG TRÌNH ĐO LƯỜNG TÂM 
     Dò sông dò biển dễ dò,
     Đố ai lấy thước mà đo lòng người.

Đúng vậy, cho đến giờ chưa có thước đo Tâm. Khoa học tự nhiên có truyền thống muốn tất cả mọi thứ được định lượng, nói một cách bình dân là: cân, đo, đong, đếm. Đối tượng nào không đạt được những yếu tố trên, duờng như bị khoa học tự nhiên loại ra khỏi sân chơi của mình.

Do đó, để định lượng Tâm Yêu, Ái dục, Tham dục, Si thì bắt buộc ta phải tìm ra cách để sử dụng ngôn ngữ toán học. Tất nhiên như mọi người đều biết, ngôn ngữ này mang tính chất biểu tượng cao, phổ quát cao và chính xác cao. Khó khăn trước mắt của chúng ta là lấy đâu ra những con số để đo lường một đối tượng không hình, không ảnh? Vi Diệu Pháp chính là chiếc phao cứu sinh cho vấn đề này.

Chúng ta cùng xem lại tiến trình Tâm theo Vi Diệu Pháp:

Giải thích về Tâm sát na hay tiến trình Tâm:

Tình trạng thụ động của Tâm, khi được trôi chảy không bị một kích thích nào, được gọi là Hữu Phần hay luồng Bhavanga. Các Tâm khởi lên trên mặt Bhavanga rồi chìm xuống vào Bhavanga. Thông thường, chúng ta không thể giữ mãi một Tâm mà không cho chìm xuống Bhavanga.

Một Tâm có thể so sánh như một làn sóng nổi lên trên mặt biển, tồn tại trong một thời gian rồi chìm xuống để làm nổi dậy một làn sóng khác rồi đến một làn sóng khác. Cũng như vậy, một Tâm khởi lên trên mặt Bhavanga, được nhận thức rồi Tâm ấy chìm xuống để làm khởi dậy một Tâm khác và một Tâm khác nữa. Như vậy một Tâm có ba giai đoạn: 

          Sanh (Uppàda)  Trụ (Thiti) /  Diệt (Bhanga).

Ðời sống của một Tâm, từ khi khởi cho đến khi chìm xuống gọi là Tâm sát na(Cittakhana) và diễn ra như sau:

1. Khi một kích thích ở ngoài (đối tượng phức tạp) được thọ lãnh ngang qua 5 căn.
2. Sự trôi chảy yên tịnh của Bhavanga bị rung động trong một Tâm sát na và được
gọi là sự rung động của Hữu Phần (Bhavangacalana).
3. Rồi dòng Bhavanga đứng dừng lại trong một Tâm sát na và gọi là sự dừng đứng của Bhavanga (Bhavangupaccheda). Rồi cùng trên một đối tượng ấy, những tâm sát na sau này khởi lên, tiếp nối nhau một cách mau lẹ, khởi lên rồi chìm xuống.
4. Ngũ Môn Hướng Tâm.
5. Tiếp Thọ Tâm.
6. Suy Đạc Tâm.
7. Xác Định Tâm.
8 - 15. Javana (Tốc Hành Tâm). Tâm này mạnh đến 7 sát na
16 - 17. Ðồng Sở Duyên Tâm. Tâm này gìn giữ và ghi nhận vào trong tiềm thức và lập đi lập lại đến hai sát na. Như vậy, từ luồng Bavangha Hữu Phần đến Đồng Sở Duyên Tâm có đến 17 Tâm sát na hay còn gọi là tiến trình Tâm.

Sự tương quan giữa Tâm  vật chất.

Giáo lý về Vô Thường cho biết sự vật luôn luôn biến đổi theo từng sát na. Câu hỏi đặt ra là nếu sự vật thay đổi biến dịch mau chóng như vậy, thì làm sao một lộ trình của Tâm dài đến 17 Tâm sát na có thể diễn tiến trên một sự vật làm đối tượng? Vi Diệu Pháp đã giải thích rằng sự biến dịch của sự vật chậm hơn sự biến dịch của Tâm đến 17 lần.

Căn cứ theo Vi Diệu Pháp, Tâm có 3 giai đoạn là 1, 2 và 3 (Sanh, Trụ và Diệt). Số liệu này giúp ta liên tưởng rằng sóng Tâm có thể có hình dạng tương tự như một hàm sóng sin (sin wave). Vẫn theo tài liệu trên, một Tâm muốn đạt được sức mạnh lớn nhất (chưa nói về Nghiệp Lực) thì phải hoàn tất 17 tiến trình. Như vậy, một lần nữa chúng ta lại biết biên độ của sóng Tâm là 8,5.

Sau đây ta qui ước với nhau: 
     8.5   =   1   =   H (hằng số năng lượng Tâm).
Ở đây chúng ta tạm lấy hằng số tượng trưng là 8.5 = 1. 

Lý do là vì những đối tượng của sự nhận thức ngang qua Ý Môn sẽ thuộc về Dục Giới. Và đối tượng ở Dục Giới có thể rõ ràng có thể không rõ ràng. 
- Khi đối tượng rõ ràng, tiến trình của Tâm mới kéo dài cho đến Ðồng Sở Duyên Tâm; nghĩa là gồm 17 Tâm sát na. 
- Nếu đối tượng không rõ ràng, tiến trình Tâm sẽ ngắn hơn (thí dụ chỉ đến giai đoạn 14 Tâm sát na, hoặc 8 Tâm sát na rồi chìm trở lại xuống Hữu phần). Điều này có nghĩa là biên độ sóng Tâm không còn là 8.5 nữa mà giảm xuống chỉ còn 2/3 hoặc một nửa. 

Vậy Tâm mạnh hay yếu lệ thuộc vào cái gì?

Nếu chúng ta qui ước:  
- T: là thời gian Tâm hướng về đối tượng.
- F: là tần số. (là số lần Tâm hướng về đối tượng trong khoảng thời gian là T)
- E: là năng lượng Tâm.

Phương trình đo năng lượng Tâm sẽ là như sau:

     E   =   F (tần số)  x   H (hằng số)

Giả sử trong thời gian T = 1 phút, Tâm hướng về đối tượng 50 lần, thì tần số F sẽ là 50. Đối tượng rõ ràng với 17 sát na, nên biên độ sóng là 8.5 và hằng số Tâm H = 1.

     E (năng lượng Tâm)  =   50   x   1   =   50

Nếu tần số F càng lớn, thì Tâm càng mạnh; ngược lại thì Tâm sẽ yếu.
Nếu H càng nhỏ thì Tâm sẽ càng yếu.



Thursday, March 20, 2014



Mục đích của bài viết này là cung cấp một số kỹ thuật và một số lý thuyết(không thể tránh khỏi) cho bất cứ ai có nhu cầu Nhập Định, vì nhiều mục đích khác nhau và không phân biệt trường phái. Bài viết này được xây dựng dựa trên rất nhiều cơ sở: Trường phái Raja Yoga, trường phái Phật Giáo, trường phái Thôi Miên ... và kinh nghiệm thực tế của chính những người viết bài này.

Chúng ta thường cho rằng những trường phái nói trên chẳng liên quan gì tới nhau. Nhưng thực sự, các trường phái này đều sử dụng những kỹ thuật về mặt cơ bản rất giống nhau. Trong cuộc sống hằng ngày, người ta có thể thấy có rất nhiều trạng thái giống như người Nhập Định thụ động. Tuy nhiên, việc này còn tùy thuộc vào cách định nghĩa Nhập Định là gì.

Trong bài viết này, chúng ta chỉ giới hạn Nhập Định ở khu vực Dục Giới. Nhiều lắm là Sơ Thiền Hữu Sắc. Kỹ thuật Nhập Định ở đây chỉ thuần túy là kỹ thuật nhằm chuyển đổi từ một người bình thường qua một người với cái Tâm đứng im, còn gọi là An Chỉ Tâm. Ở trạng thái này, người tập Thiền Định tự phát hiện ra rằng dường như mình có nhiều con người ... 

Có những hiện tượng có vẻ giống như Nhập Định thụ động: Khi xem hát những loại nhạc quá kích động, người ta cũng có thể bị xỉu. Các loại thuốc gây nghiện, thuốc ngủ, thôi miên, lên đồng, cận tử ... có thể những tác nhân này tạm thời làm cho người ta mất ý thức. Trong điều tra tội phạm, việc chiếu nguồn sáng cực mạnh vào người bị hỏi cung là nhắm mục đích làm cho người đó mất đi ý thức, mất đi khả năng nói dối, ký ức về sự thật được khơi dậy từ tiềm thức. Người thôi miên khuyến dụ đối tượng nhìn vào mắt của mình, nhìn vào một nguồn sáng nhỏ, nhìn vào một cái gì đó đã được chuẩn bị từ trước cũng với mục đích cũng tương tự như trên; là làm đối tượng tạm thời mất đi ý thức. Trong chiến tranh, người ta sử dụng những công cụ phát âm thanh cực lớn, phát ra mùi cực kỳ khó chịu để làm cho binh sĩ đối phương mất ý thức, thậm chí bỏ chạy. Các võ sĩ nhu đạo trong khi đấu đối kháng cũng thét lên tiếng thét là "kiai".

Quan sát các hiện tượng nói trên và cố gắng tìm ra các mối quan hệ giữa các hiện tượng, chúng ta có thể đưa đến một phát biểu có tính chất của một qui luật tổng thể khách quan. Đó là: Khi một hay nhiều giác quan của một người bị tác động, bị kích thích vượt qua một ngưỡng nào đó của việc chịu tải thông thường sẽ làm cho con người mất đi ít nhiều ý thức, mất tự chủ, thậm chí là bất tỉnh.

Trong diễn đàn về xe hơi ở Việt Nam, có kể về trường hợp một thanh niên trong đoàn du lịch, ngừng lại đêm khuya ở một cái đèo miền Trung để ăn cơm, trong lúc đi ra ngoài thì gặp Ma. Người thanh niên mất ý thức không nói được nữa, khi trở về nhà bị bệnh nhiều ngày.

Mặc khác, con người không có khả năng điều khiển một máy móc gì đó có trên 7 phần khác nhau. Điều này chứng tỏ là do ý thức bị quá tải (Napoleon có thể đọc cho người ta viết một lúc 7 bức thư khác nhau là một trường hợp hy hữu). Một trong những nguyên nhân tai nạn máy bay thường xảy ra là do những nhầm lẫn của phi công (Pilot error). Kinh nghiệm trong cuộc sống đời thường, chúng ta cũng từng nói: "Tôi nghe xong là choáng váng ..." hoặc "sợ quá tôi muốn xỉu" v.v...
         
Nếu chúng ta biết vận dụng những phản ứng tâm sinh lý tự nhiên của con người, thì chúng ta có thể giải thích, ứng dụng một cách có hiệu quả vào việc Thiền Định của mình. Suy cho cùng việc Nhập Định cũng chẳng có gì là bí ẩn cả. Thật ra đó chỉ là việc ứng dụng những thao tác kỹ thuật đơn sơ. Biết sử dụng những đối tượng bình thường, để làm quá tải một hay nhiều giác quan, thì hiệu ứng Thiền Định sẽ xẩy ra một cách cơ học. Và nếu thực hành nhiều lần, kinh nghiệm sẽ dạy cho ta biết thao tác kỹ thuật nào là tốt nhất để đưa đến việc Định Tâm. Đây chính là ông thầy tốt nhất của chúng ta.

Ai đó từng theo đuổi việc Thiền Định mang tính chuyên nghiệp đều đã, đang và sẽ trải qua giai đoạn tầm sư học đạo. Tất nhiên đây là việc tốn nhiều công của, gặp hết người này đến người khác, tham khảo biết bao nhiêu tài liệu, sách vở, thực tập nhiều trường phái. Nhưng cuối cùng thấy mình vẫn chỉ là mình, chẳng có gì thay đổi, Thôi thì chỉ đành tự an ủi: "Tôi có thay đổi tâm tánh hơn xưa".

Điều này có thể hoàn toàn đảo ngược nếu chúng ta có kiến thức về lý thuyết một cách có hệ thống về cấu tạo và vận hành của chính bản thân mình; kèm theo đó là kỹ thuật về Thiền Định mang tính chất thực tiễn và hiệu quả. Lúc đó, tất cả những điều nói trên sẽ trở thành kỷ niệm của quá khứ.

Chân lý vốn đơn giản. Chính vì đơn giản nó làm cho người ta bất ngờ.

Để có thể triển khai một cách hiệu quả các Kỹ thuật Thiền Định, thì việc xây dựng kiến thức hạ tầng cơ sở vững chắc là điều thật sự cần thiết. Thật thế, nếu chúng ta nghi ngờ vào các kỹ thuật mà chính mình đang sử dụng, thì việc Nhập Định rất khó thành công. 

Nếu phân tích theo truyền thống Vi Diệu Pháp, chúng ta thiếu rất nhiều các yếu tố TÂM để thành công trong Thiền Định. Lẽ ra chúng ta cần phải có những yếu tố Tâm như là Thắng Giải (chọn lựa để quyết định), Tinh Tấn (cương quyết đặt mục tiêu không ngừng nghỉ ...), phải có lòng ham muốn thực hiện gọi là Pháp Dục, phải nuôi dưỡng các Tâm trên, gọi là Mạn Căn.

Chúng ta đều biết khi làm một việc gì có lòng tin thì dễ thành công. Ngược lại, nếu có tâm lý tiêu cực, tất nhiên khó thành công được. Có thể do việc thiếu kiến thức làm chúng ta không hiểu rõ nên sanh ra nghi ngờ. Những Tâm này theo truyền thống Phật Giáo, xếp vào loại Tâm xa lìa mục đích Giải Thoát.

Trước khi tiến đến việc thực hiện các thao tác kỹ thuật, tưởng cũng cần phải giải quyết rất nhiều vấn đề tâm lý của người tập Thiền Định. Yếu tố gây bối rối đầu tiên là hiện nay có rất nhiều kỹ thuật, trường phái, lý thuyết, chủ thuyết nói về Thiền Định. Nếu vậy thì câu hỏi được đặt ra là: Cái nào là tốt nhất? Cái nào nên chọn? Cần phải có Thầy hay có thể tự tu? Cần tịnh cốc, tịnh thất? ...

Một kỹ thuật đúng, một lý thuyết đúng chính là câu trả lời cho tất cả các câu hỏi trên. Sakya Muni (Phật Thích Ca) từng nói trước khi bỏ thân xác lại thế gian:
"Tri thức đúng đắn là Thầy của mọi người". 

Lời nói này dường như bao hàm chân lý của sự minh triết cho bất cứ ai muốn theo đuổi bất cứ bộ môn khoa học nào. Quan điểm của Sakya Muni đã được thực tế chứng minh là đúng. Thực vậy, người ta có thể học rất nhiều bộ môn ở những trường đại học trên thế giới qua phương tiện online.

Những người tu tập Thiền Định (ở đây chúng ta đang đề cập đến những người chuyên nghiệp), đã từng theo đuổi công việc này qua nhiều năm tháng, ở bất cứ trường phái nào, đều nhận thấy rằng có người chẳng bao giờ Nhập Định được, có người thì lúc được, lúc không. Đây chính  căn bệnh nan y, là tai họa cho người tu tập Thiền Định. Mặc dù nhiều phương thức "chữa trị" đã được đề xuất nhưng đâu vẫn vào đấy.

Sở dĩ phải vô cùng dài dòng về vấn đề này ở phần trên, vì chúng ta có tham vọng tìm ra đáp án mang tính chất thực tế và hiệu quả. Chúng ta hy vọng có một lý thuyết tốt và một kỹ thuật giúp cho những người thực hành Thiền Định không phải đi đường vòng, tránh thất bại không cần phải có. Từ đó chúng ta hy vọng tìm ra qui luật tổng thể khách quan của bộ môn Thiền Định.

Như đã trình bày ở phần trên, bài viết này ít nhiều cũng mang tính chất, mang ý định đột phá trong bộ môn Thiền Định. Đây không phải là một sáng tác, nhưng ít nhất cũng mang tính hệ thống hóa lý thuyết và kỹ thuật của bộ môn Thiền Định. Ở đây người ta có thể tìm thấy những gì thực tế và hiệu quả hơn so với những bản thống kê về các loại Tâm quá lạt lẽo của những bộ Vi Diệu Pháp.

Tác giả của bài viết này đã cố tránh một lý thuyết, một kỹ thuật mang quá nặng tính chất Chủ nghĩa Duy tín ngưỡng, Chủ nghĩa Duy lý trí, xa thực tế ... khó áp dụng cho người bình thường như chúng ta; vì vô tình nó sẽ biến thành một Chủ nghĩa không tưởng.

Một lý thuyết và kỹ thuật mang tính chất thực tế và hữu hiệu khi nó đáp ứng được những tiêu chuẩn sau đây:
     - Phải thỏa mãn được những qui luật cơ bản của Tư duy hình thức.
     - Lý thuyết này xét ở mặt chủ nghĩa thực tiển phải đáp ứng được qui luật tư duy hình thức, có nghĩa là tiên đề lý thuyết được kinh nghiệm, thực tế chứng minh là đúng.

Đã có một lý thuyết và kỹ thuật đáp ứng được những yêu cầu nói trên ... ít nhất về mặt khoa học hiện đại, nó mang tính chất thực tiễn. Khi sử dụng những phép đo lường trong y khoa, những kỹ thuật tu tập này đã chứng minh đem lại những hệ quả tích cực: Thí dụ như sự xuất hiện của sóng Theta khi đo điện não trên người Thiền Định lâu ngày. Sóng Theta này đem lại sự thanh tịnh, trạng thái an lạc và tình thương; huyết áp giảm v.v...  

Sau đây chúng tôi xin trân trọng giới thiệu tiến trình Nhập Định của trường phái Thiền Định Nguyên Thủy Phật Giáo và một số trường phái khác cùng những lý thuyết, giả thuyết ... giải thích về hiện tượng Nhập Định này. Bài viết sẽ lần lượt đề cập đến 4 vấn đề sau đây:

       - Kinh nghiệm thực tế của loại Kỹ Thuật Nhập Định.
       - Cách thực hiện trên thực tế các bước, các tiến trình Nhập Định.
       - Lý thuyết giải thích theo truyền thống Vi Diệu Pháp.
       - Giải thích theo giả thuyết về Lượng Tử Tâm.
A. KINH NGHIỆM THỰC TẾ CỦA CÁC LOẠI NHẬP ĐỊNH:

Định Tâm là nhu cầu cần thiết để sử dụng trong nhiều mục đích khác nhau. Để đạt được mục đích này, các trường phái sử dụng rất nhiều hình thức khác nhau. Suy cho cùng, thì cùng chung một bản chất.

1. Thôi miên:
Có rất nhiều trường phái thôi miên khác nhau. Phương thức phổ thông nhất là gây tác động, gây sự chú ý thông qua 2 giác quan quan trọng nhất của con người, đó là thính giác và thị giác. Người thôi miên yêu cầu nhìn vào mắt họ, hoặc một vật đã được chuẩn bị trước. Họ khuyến dụ bằng lời nói, nhắc đi nhắc lại một mệnh đề, mang tính chất nhắc bảo, chỉ thị và ép buộc.  

2. Mandala của Tây Tạng:
Là một kịch bản phức tạp do con người tạo ra, thường có chung một nội dung. Kịch bản này tác động đến hầu hết đến các giác quan, kể cả tư tưởng của con người. Mandala gây được tác động rất mạnh vì nhiều lý do như là: Tính chất có vẻ cao quí, có lợi vì hành giả nghĩ rằng khi tập sẽ có nhiều phước báu. Bên cạnh đó có thể còn có những yếu tố, năng lượng khác mà chưa xác định được. Đây là một phát minh thực tế chứng tỏ hiệu quả, xứng đáng để cho người tu Thiền Định quan tâm.  

3. Raja yoga và trường phái Phật Giáo chia sẽ cùng một công thức

"Chú tâm vào một vật duy nhất". Công thức này bao hàm tiến trình phổ thông bao gồm: Tầm, Tứ, Nhất Tâm, Hỷ lạc mà ai cũng biết. Tất nhiên còn phải kể đến rất nhiều Tâm Sở kèm theo.

4. Người đoán vận mạng:
Thường sử dụng một khối pha lê hay thủy tinh hình tròn như một viên bi to và họ chú Tâm liên tục nhìn vào không gian vô tận. Động tác này làm họ mất đi ý thức.  

5. Còn nhiều trường phái khác: 
Thậm chí sử dụng chất say làm chất xúc tác.

B
. CÁCH THỰC HIỆN THỰC TẾ CÁC BƯỚC, CÁC TIẾN TRÌNH NHẬP ĐỊNH:

Căn cứ vào kỹ thuật tập luyện của một số trường phái kể trên, người ta có thể đưa đến một phát biểu mang tích chất tổng quát khách quan:

"Muốn Định Tâm thì phải chú tâm liên tục vào một đối tượng cho đến khi Tâm đứng im".

Có thể gọi đây chính là loại thủ thuật
, một bí quyết tuy nhỏ nhưng nó là chìa khóa của cách tập đưa đến Nhập Định. Tiến trình, thao tác được thực hiện như sau: Sau khi quan sát bằng mắt, nghe bằng tai bình thường ..., ta hãy nhắm mắt lại: 

1. Cố gắng nhìn thấy hình ảnh đó trong trí óc với đầy đủ các chi tiết.
2. Cố gắng nghe những âm thanh như Chân Ngôn chẳng hạn.
3. Cố gắng đếm số lượng Chân Ngôn nghe được.
4. Cố gắng ngửi mùi, như mùi hương chẳng hạn, dùng tất cả các giác quan có thể có, để tiếp nhận đối tượng. 

Tất cả những việc này phải được thực hiện cùng một lúc với mục đích làm cho các giác quan trở nên quá tải. Những việc này phải thực hiện ở cường độ cao nhất, liên tục và thật thư giãn. Nếu liên tục thực hiện như vậy, bỗng nhiên ta Định Tâm (chúng ta sẽ giải thích cơ chế của vấn đề này theo giả thuyết Tâm Lượng Tử ở phần sau)

Rất có thể nhiều người tu Thiền Định không biết cách tập luyện này, nên đã lãng phí bao nhiêu năm tháng. Dường như đại đa số lại tập ngược lại. Chúng ta thử nghĩ lại, đúng ra là phải nghe âm thanh trong tâm trí, chứ không phải là đọc âm thanh để cho mình nghe bằng tai.

Bàn về chọn đối tượng để tu Thiền, chúng ta nên quan tâm:
    - Đối tượng ngoại hình nên khả ái, biểu hiện của cái tốt.
    - Đối tượng có nhiều chi tiết phức tạp, tác động đến nhiều giác quan.
    - Đối tượng phải lạ, phải thay đổi đối tượng luôn để tránh sự nhàm chán.
    - Đối tượng có khả năng tạo cảm giác mạnh.

C
. LÝ THUYẾT GIẢI THÍCH TIẾN TRÌNH NHẬP ĐỊNH THEO VI DIỆU PHÁP:

Để có thể hình dung một cách cụ thể, xin quý độc giả vui lòng nghiên cứu bản vẽ kèm theo và tham khảo thêm những bài viết trước.

D. GIẢ THUYẾT LƯỢNG TỬ TÂM:

Khoa học ngày hôm nay thường sử dụng hình thức mô hình để mô phỏng thế giới tự nhiên. Chúng ta giả định một thực thể tu Thiền Định, được ký hiệu là (E). E là một tập hợp có cấu tạo Tâm là hữu hạn, có nghĩa là nhỏ hơn vô cùng và không phải là một tập hợp vô hạn, cũng như không phải là một tập hợp rỗng. Chúng ta có thể mô tả thực thể bằng hình thức sau đây:

     E   =   { X, Y, …}  (trong đó X và Y là các nhóm Tâm)

Hiện nay có quá nhiều cách chia các Tâm; nhưng để đơn giản hóa, chúng ta chia các Tâm thành hai loại căn cứ vào mục đích giải thoát:

Tâm hướng đến mục đích giải thoát:             
     X   =   { A, B, C }

Tâm không hướng về mục đích giải thoát:       
     Y   =   { D, H, K }

Cho ra:
     E   =   X   U   Y

Tâm của một Thực Thể ở trạng thái bình thường, không có tác động nào cả, người ta thường gọi là Tâm thụ động. Thụ động không phải là đứng im, không phải là An Chỉ Tâm. Nếu chúng ta công nhận khái niệm Vô Thường và Vô Ngã … thì Tâm của các Thực Thể tất nhiên phải ở trạng thái vận động liên tục. Nếu có tác động vào Tâm, chúng ta có thể viết như sau: 

     E   +   F   Ξ   D 

F (Force): lực tác động
D (Dimension): chiều không gian
  
Hiện tượng này có thể giải thích như sau

Khi những Tâm gọi là Tầm và Tứ của một Thực Thể, hướng về một đối tượng thì sẽ hấp thụ một số năng lượng từ những đối tượng đó. Ngoài những năng lượng này, có thể còn có những năng lượng khác chưa xác định được. Sự hấp thụ năng lượng có lẽ sẽ tỉ lệ thuận với số lượng Tâm và thời gian hướng về đối tượng. Đến một giới hạn nào đó thì Tâm Tầm và Tứ sẽ bức xạ một số lượng tử, (nếu chuyển qua màu sắc thì khả năng có thể là bảy màu). Ở trạng thái này, Tâm Tầm và Tứ, vì bức xạ các lượng tử nên làm các Tâm khác của Thực Thể bị lu mờ đi. Chính năng lượng được hấp thụ và bức xạ làm thay đổi năng lượng của một Thực Thể. Đây có thể là cơ chế tạo ra Nhập Định. 

Tuy nhiên cũng phải kể đến những khả năng khác, không đưa tới Định Tâm mà đưa tới phóng Tâm. Có thể giải thích như sau, trong khi thực hiện những tiến trình Nhập Định nói trên, thì ngẫu nhiên có những lượng tử tâm khác có năng lượng lớn hơn tác động vào người đang thực hiện tiến trình Nhập Định. 

Đặt giả thuyết là tiến trình Nhập Định nếu được triển khai trọn vẹn thì Thực Thể có đột biến thay đổi, do đó, phải chuyển đổi đến một hệ quy chiếu phù hợp; nghĩa là chuyển đến một chiều không gian khác.






Samasamadhi:
Tiếng Việt Nam thường dịch ra là Chánh Định.

- Raja Yoga và trường phái Phật Giáo cùng chia sẻ 1 định nghĩa: "Tư cách chú Tâm vào một vật duy nhất".

- Thật ra, đây là một kỹ thuật điển hình kinh điển và hàn lâm. Nhưng thực tế, ít ai quan tâm tới lối tập này, người ta hay chọn những lối tập hoàn toàn khác hẳn.

- Mục đích của trường phái Phật Giáo là Giải Thoát. Do đó, các Tâm của Thiền Định phải là Thiện Tâm, chứ không thể là Bất Thiện Tâm hay Vô Nhân Tâm. Chính xác là Thiện Tâm Duy Tác. Để hiểu rõ vấn đề này, xin quý độc giả vui lòng tham khảo thêm tài liệu Vi Diệu Pháp.
Rất nhiều người cho là muốn Thiền Định thì cần phải buông xả hết, thậm chí kiến thức cũng được xem là một trở ngại. Thế nhưng truyền thống Phật Giáo, Raja Yoga có đồng quan điểm cho là:
"Thiếu sót lớn nhất trong đời là thiếu hiểu biết
"Tài sản lớn nhất trong đời chính là sự hiểu biết". 


Loại Thiền Định được trình bày trong bài này đòi hỏi người có ý định tập luyện phải hiểu rất rõ về các loại Tâm. Sau đó, cần phải nhớ một số các loại Tâm thường gặp. Trên cơ sở này, người tập Thiền sẽ sử dụng kỹ thuật nghiệp vụ Thiền Định để làm chủ, điều khiển Luồng Tâm Thức hướng về mục đích mà mình muốn đạt được.

Chúng ta hãy quan sát và so sánh Luồng Tâm Thức của một người bình thường không điều khiển được với Luồng Tâm Thức của một người Thiền Định điều khiển được.

- Người bình thường: Trong 1 thời gian T, có 3 Tâm nổi lên và chìm xuống.
- Người Thiền Định: Trong 1 thời gian T, có 1 Tâm nổi lên và không chìm xuống.Được gọi là An Chỉ Tâm.

Để đạt được đường biểu diễn của người Thiền Định, chúng ta sẽ thực hiện các bước nêu sau:

1. Chọn 1 vị thế để tập luyện: Vị thế phù hợp với mình, không kiểu cọ nặng về hình thức. Chúng ta nên để ý, không có một vị thế nào thích hợp cho mọi người và mọi lúc. Làm sao để kiểm tra một vị thế được gọi là tốt cho chính mình? Câu trả lời là chúng ta chọn bất cứ vị thế nào, ở trong tư thế đó mình có thể ngủ được mà không đổ gục. Việc cố gắng để ngồi cho thật thẳng và cho rằng xương sống sẽ thẳng với tư thế này chỉ là một ảo giác. Môn cơ thể học y khoa cho biết xương sống có hình cong.

2. Chọn 1 vật làm đối tượng để quan sát: Đối tượng có thể là bông hoa, hình tượng tôn giáo, 1 viên bi có màu thích hợp ... Tuy vậy, còn một lối chọn lựa nữa, không chính thống, đi ra ngoài truyền thống Vi Diệu Pháp, nhưng thực tế lại tỏ ra rất hiệu quả trong việc tu Thiền Định. Ấy là các loại Đàn Pháp mà các Lạt Ma Tây Tạng nổi tiếng khắp thế giới dùng để Quán Tưởng.

Đàn Pháp có 2 cái lợi: 
* Thứ nhất: Đàn pháp là một đối tượng phức tạp, do đó muốn đạt đến Nhất Tâm cao thì 2 yếu tố Tầm  Tứ phải hết sức mãnh liệt. 
* Thứ hai: Là tạo ra sự dung thông vô ngại giữa hành giả và các bậc giác ngộ. Việc chọn lựa đối tượng xin dành cho quý độc giả.

3. Chú tâm nhìn vào đối tượng: Sau đó nhắm mắt lại, Tâm này người ta gọi làTầm, từ ngữ này tương đương với từ ngữ tâm lý học là chú ý. Xin phép được nhắc lại cùng quý độc giả là Tâm lý học cho biết chúng ta chú ý vì những lý do sau đây: Cái gì mạnh, cái gì lạ, cái gì có lợi cho mình và cái gì mình thích. Căn cứ vào Tâm lý học, quý độc giả cân nhắc về việc chọn đối tượng. Tiếp theo gọi là Tứ, chữ này có nghĩa là liên tục chú ý đến đối tượng.

4. Nếu thực hiện được việc Tầm  Tứ: Thì khả năng tâm sẽ đứng yên, gọi là An Chỉ Tâm, nghĩa là Tâm bằng phẳng yên lặng.

Bây giờ chúng ta hãy thử mô tả tiến trình thực sự của một người Nhập Định:

Có lẽ, rất nhiều quý độc giả quan tâm tới phần này, kể cả người đã từng Nhập Định và những người chưa hề Nhập Định bao giờ. Những gì chúng tôi sắp trình bày sau đây chỉ là một loại Định cạn cợt, hay nhiều lắm, là Sơ Thiền Hữu Sắc. Tưởng nên nhắc lại, loài người chúng ta, ở trong Cõi thấp nhất của bảy cảnh Thiên, đặc điểm của cảnh Thiên là có Nam và Nữ, vẫn có những thú vui của các giác quan. Do đó, khi Nhập Định gặp những vị này, chúng ta phải hiểu ngay, là chúng ta đang ở cảnh Thiên, chứ đừng lầm tưởng là Sơ Thiền Hữu Sắc. Sơ Thiền Hữu Sắc, không có Nam Nữ, không có thú vui của Dục Giới, quang cảnh phẳng lặng yên bình, thanh tịnh dịu mát.

- Thời gian để Nhập Định được, theo các công cuộc khảo cứu thì mất đến 20 phút cho đến 2 giờ. Thực tế thì điều này tùy thuộc rất nhiều vào khả năng, định lực của từng cá nhân.

- Trước khi Nhập Định, nhất là đối với người sơ cơ, tâm lý trở nên hỗn loạn. 

- Sau đó, có thể bị mất ý thức, bị mê đi, tùy thuộc vào từng người. Nhưng một khi định lực trở nên mạnh mẽ, thì việc hôn trầm không còn nữa. Điều này quý độc giả nào từng trải qua sẽ hiểu rất rõ. Tình trạng mất ý thức kéo dài bao nhiêu lâu cũng như trên đã trình bày, nó tùy thuộc vào Định Lực. 

- Thế rồi, bỗng nhiên mình thấy con người mất trọng lực, không còn biết phương hướng, tâm lý phẳng lặng. Nó giống như một khoảng trống không gian không có cái gì ở trong cả. Chúng ta mất ý thức về thời gian, các nhu cầu vật chất và tinh thần không còn hiện hữu, món nợ lớn nhất trong đời là tình cảm là thân nhân cũng mất hoàn toàn ra khỏi ý thức. 

- Nếu người tu tập còn đủ bình tĩnh và sáng suốt thì thấy hai cái Tâm của Thiền Định là: Nhất Tâm  Lạc hiện hữu rất rõ ràng. Thường thường vì Tâm Hỷ là vui mừng, làm chúng ta mất bình tĩnh, nên không tự quán xét được.

Trạng thái Nhập Định là một trạng thái xa lạ, đúng hơn là kỳ lạ đối với con người bình thường, nên chúng ta rất bỡ ngỡ, lạc lõng, mất phương hướng, thường không tự chủ được. Giống như trong giấc mơ, chúng ta không tự chủ được, nên mới sanh ra ác mộng. Ở trạng thái Thiền Định chúng ta rất yếu đuối, bị cuốn đi trong làn gió như một chiếc lá, dù rất muốn tự chủ, nhưng không tự chủ được, chúng ta lang thang không mục đích, đến một nơi vô định ... hiện tượng này cũng rất giống với người Cận Tử, thế rồi bỗng nhiên ta Xuất Định, vì Định Lực đã hết, cũng giống như một chiếc xe hết xăng. Phải tập nhiều năm, tất nhiên là tùy từng người, chúng ta mới tự làm chủ được.

Thiền Định còn có một cảm giác khó có thể tả được, một cảm giác không thể cho là xúc giác hay ý thức. Cảm giác này là sự dễ chịu, hạnh phúc về tinh thần lẫn thể chất. Y học giải thích là trong trạng thái Nhập Định, bộ não con người đã tiết ra một loại hóa chất tương tự như một loại thuốc phiện.


Hệ quả của việc Nhập Định tất nhiên là sự chuyển đổi của Tâm và Cảnh Giới. Do đó, người tu Thiền Định hay gặp các Thực Thể ở rất nhiều Cõi giới khác nhau. Mặt khác, vì cấu tạo Tâm của người tu Thiền Định, trong lúc Nhập Định (chúng ta nên để ý chỉ ở trong lúc Nhập Định mà thôi) hoàn toàn khác hẳn. Họ trở thành một con người khác. Do đó, họ có những giác quan khác, nên trình độ hiểu, biết khác hẳn lúc bình thường. Đầu tiên, người ta sẽ cảm thấy vui vui, kèm theo lo sợ, vì không biết tại sao mình lại biết trước những việc sẽ xảy ra. Thật ra, đây là một dấu ấn quan trọng, một tín hiệu lạc quan, báo cho mình biết là thành quả đã đạt được do công lao chính mình bỏ ra. 

Với sự hiểu biết về nền tảng của Tâm và có kỹ thuật tốt, nhập Chánh Định thành công là một hy vọng, một vùng đất hứa cho tất cả mọi người.







Người ta giả thuyết rằng hiện tượng Thiền Định là một hiện tượng khách quan có thật, nó cũng là một phát minh kỹ thuật của con người nhằm chống lại định mệnh mặc định của thế giới tự nhiên. Thiền Định còn là một công cụ giúp con người có được khái niệm về cái chết qua trải nghiệm thực tế khi mình còn đang sống. Mặt khác, cũng có người cho là các hiệu ứng mà Thiền Định tạo ra chỉ là ảo giác, tự kỷ ám thị - nói theo kiểu Phân Tâm Học.

Có một sự thật mà chúng cần phải được thừa nhận là nếu người ta thật sự Nhập Định được thì việc biết được những gì đã xẩy ra và sẽ xẩy ra, hoàn toàn không phải là điều hiếm có. Vì vậy việc tìm kiếm, xây dựng một giả thuyết, một lý thuyết vềThiền Định là việc nên làm. Ai cũng biết rằng bộ môn khoa học nào cũng cần phải xây dựng được lý thuyết để hoàn thiện chính mình, bộ môn Thiền Định cũng không là ngoại lệ.


Có rất nhiều lý do để cho ai đó khi có ý định xét duyệt lại bộ môn Thiền Định cảm thấy e ngại. Đối thủ trực diện của Thiền Định là khoa học hiện đại: Internet, Viagra, Cell phone. Chúng là biểu tượng của tính chất thực dụng. Khoa học hiện đại biến thành một thứ tôn giáo, tất nhiên phải có những tín đồ, mê tín và cuồng tín … là hệ quả tất yếu. 


Mặt khác phải kể đến tâm lý khá phổ biến trong sân chơi Thiền Định. Người ta nghĩ là "Tu" thì phải buông bỏ hết, phải thanh thoát, nhẹ nhàng, kể cả có quan điểm cho rằng bản thân "kiến thức" cũng là một trở ngại. Suy nghĩ này, ngay cả đối với trường phái chính thống Phật Giáo cũng không đồng quan điểm. 


Trí và hữu học là hai yếu tố không thể thiếu được để đưa đến mục đích giải thoát. Ngay cả những bộ môn khoa học bình thường, cũng không thể tiếp cận bằng những thú vui nhẹ nhàng, huống chi là Thiền Định. Chỉ cần tập lái một chiếc xe máy, xe hơi … cũng phải mất nhiều ngày, thậm chí để tập chơi đàn một cách chính qui cũng phải mất bốn năm trở lên. Do đó, hiểu được tất cả sự thật của vũ trụ là Vô Thường, Vô Ngã … chỉ bằng một tiếng "Hét", một cái "Đánh" là...

điều người ta cần nghĩ lại. Thiên tài dường như là trò chơi của sự kiên nhẫn. 

Nhiều trường phái liên quan đến bộ môn Thiền Định mà đến nay người ta còn biết được, thì hầu như không có một trường phái nào để lại một tài liệu nào về kỹ thuật hoặc lý thuyết Thiền Định. Có chăng chỉ là những kỹ thuật quá thô sơ (tài liệu Viên Giác) hoặc những tài liệu xa vời thực tế, không thể hiểu nổi, bằng kiến thức bình thường của con người, (thí dụ như Thập Định của Hoa Nghiêm)


Ở Tây Phương, người ta có thể nghiên cứu tài liệu của Thánh nữ Theresa Avila ở thế kỷ 15. Có vẻ như đó là môt loại Thiền Quán, các phần khá giống các lớp ThiềnĐịnh … Nhưng về mặt thực hành, ta học được những điều gì qua những tác phẩm nói trên?


Bên cạnh đó còn rất nhiều tác giả, mà quý độc giả có thể tham khảo như Blavasky, Krisnamurti, Suzuki … Hiện nay, thông tin đại chúng cho biết có tới 600 công cuộc khảo cứu về Thiền Định và hàng trăm bài báo … được nhiều trường đại học nổi tiếng của Mỹ nghiên cứu. Tác phẩm "You Forever" của Lobsang Rampa đã là biểu tượng của Mật giáo Tây Tạng tại Châu Âu của thế kỷ trước. Ông là người được đào tạo chuẩn mực hàn lâm tại Tây Tạng và sau này tại Anh Quốc. Trong tài liệu này, người ta không tìm thấy một hệ thống lý thuyết cũng như kỹ thuật Thiền Định để có thể thực hành.


Cũng có thể vì những lý do nêu trên, mà một người thật sự có ý định tu Thiền sẽ cảm thấy mất phương hướng và nếu có thực hành thì thực tình mà nói cũng chẳng có kết quả gì cụ thể. Có chăng là những buổi tranh luận với những người trong cùng sân chơi với mình, cố bảo vệ, phản biện những điều mà chính mình, đôi khi nghĩ lại, cũng chẵng biết có đúng hay không! Quả thật những việc vô hình, vô ảnh thì biết lấy gì làm chuẩn mực, cái khó nhất là mặc cảm tự ti, thấy mình mất phương hướng. 


II. TÂM  TẾ BÀO CỦA các THỰC THỂ:


Có lẽ duy nhất chỉ có trường phái Phật Giáo là đã để lại tài liệu Vi Diệu Pháp(thường được gọi là Tâm lý học Phật Giáo). Tài liệu này bản chất là một lý thuyết phân tích, tổng hợp, có cả kỹ thuật tu Thiền Định với rất nhiều chi tiết tinh vi. Thế nhưng tài liệu này có lẽ chỉ có giá trị cho người thực sự thực hành Thiền Định mà đạt được ít nhiều kết quả. Thật vậy, trong Vi Diệu Pháp, TÂM, đơn vị cấu tạo nên các Thực Thể ở tất cả các Cảnh Giới, mà con người chỉ là một thành phần rất nhỏ trong đó, đều được trình bày tỉ mỉ. Do đó có thể nói tài liệu này được viết ra không phải chỉ dành riêng cho con người đọc. 


Những ai chưa từng Nhập Định và trải nghiệm nhập vai Thực Thể của các Cảnh Giới khác loài người thì không thể nào hiểu được tài liệu Vi Diệu Pháp muốn nói cái gì. Lấy thí dụ cụ thể trong Vi Diệu Pháp nói rằng: "muốn nhập Thiền Vô Sắc thì phải lấy quang tướng làm đối tượng, giả thuyết là một Thực Thể đang hiện hữu ở cảnh Hữu Sắc - tất nhiên là Tứ Thiền Hữu Sắc - ở đây có 2 Tâm cơ bản: Tâm Duy Nhất và Hạnh Phúc (Nhất Tâm và Lạc), ở đây không quán sát sâu sắc để tìm rất nhiều Tâm phụ (Tâm Sở). Ngoài cường độ, còn phải xác định đến chất lượng, chất lượng của Thực Thể này phải ở cấp chất lượng thứ tư là chất lượng Thiền Định tràn ra ngoài. Hệ quả của Thiền Định là kinh nghiệm thực sự của các Cảnh Giới, sự minh triết … vỡ lẽ các ảo mộng, biết rằng còn có các lớp Thiền Định cao hơn nữa …". 

Những điều trình bày trên là hoàn toàn vô nghĩa, nếu độc giả chưa từng ở vai trò của 1 hành giả Tứ Thiền Hữu Sắc, kinh qua thực tế. Bài viết về Thiền Định này được dựa trên 3 cơ sở dữ liệu sau đây: 

1. Những tài liệu về Cận Tử.
2. Những tài liệu Vi Diệu Pháp.
3. Kinh nghiệm "Thực Chứng" của một số người tu Thiền Định và của chính những người viết bài viết này.

Chúng ta thử giới thiệu một giả thuyết gọi là: 
"Lý thuyết cấu tạo Tâm" hay đúng hơn phải gọi là 
"Lượng tử Tâm cơ học" hoặc 
"Lượng tử Tâm động học". 
Theo những tài liệu cổ thì số lượng Tâm có khoảng gần 200. Tâm được mô tả như là những viên gạch xây dựng lên thế giới Thực Thể ở bất cứ Cảnh Giới nào, chỉ khác nhau về chủng loại và số lượng, cũng giống như các nguyên tố hóa học, hạ nguyên tử (subatom, những hạt cấu tạo nên nguyên tử) đã xây dựng lên thế giới vật chất chung quanh chúng ta. Tâm có lẽ là đơn vị nhỏ nhất không thể phân chia được.

Khoa học ngày nay biết rõ về tên và số lượng của các nguyên tố hóa học cũng như định luật tương tác của chúng. Nhưng người ta lại không có câu trả lời về tên và số lượng Tâm mặc dù đã mày mò qua nhiều năm tháng. Đó là chưa kể đến việc tương tác của các Tâm lại khác với hóa học và với điện từ học. Nếu chúng ta mặc định là Tâm cũng có điện dương và điện âm thì các Tâm lại tuân theo một định luật khác gọi là "Định Luật Tương Ưng", cụ thể Thiện Tâm Vương thì có khoảng 35 Tâm Sở vệ tinh.

Đơn vị Tâm hàm chứa rất nhiều năng lượng: Dục giới, Sắc giới, Thiện, Không thiện, Dị thục (tạo ra nhân quả), Duy tác (không tạo ra nhân quả) v.v… Vẫn theo những tài liệu nói trên, Tâm có một vai trò hết sức quan trọng. Có tài liệu đã mô tả Tâm là: ”Tâm đứng đầu, Tâm tạo tác tất cả”. Theo truyền thống Vi Diệu Pháp, thì Tâm sanh ra vật chất (cũng giống như năng lượng sanh ra khối lượng, trường sanh ra chất). Với con người như chúng ta, thì người ta cho là năng lượng của Tâm đã tạo ra phần ngoài thể xác của chúng ta. 

Một Tâm Vương không bao giờ hiện hữu một mình, chúng luôn luôn được bao bọc bởi rất nhiều Tâm Sở. Đời sống của Tâm cũng tuân theo qui luật: Sinh,Trụ, Hoại, Diệt. 

III. TỔ HỢP TÂM của MỘT THỰC THỂ  VẤN ĐỀ NHẬP ĐỊNH:

Không có tài liệu Thần Học của bất cứ trường phái nào lại giống như tài liệu truyền thống Phật Giáo Vi Diệu Pháp. Ở đây không có: Thượng Đế, Thần Linh, Bí Tích, Mặc Khải hoặc phép lạ v.v… Cũng giống như các bộ môn khoa học bất kỳ, ở phần đầu chúng ta cũng phải chấp nhận một số "Tiên Đề" mang tính chất "Định Đề"(Postulate). Kế tiếp, mọi việc được trình bày một cách khá Duy Vật và Cơ Học theo một trình tự của nguyên lý đồng nhất, như thế mọi người bình thường đều có thể hiểu được. 

Vẫn theo Vi Diệu Pháp, thì có rất nhiều Cảnh Giới khác nhau, số lượng có thể không đếm được, vì có các Thực Thể có số lượng cấu tạo Tâm nhiều gần 200 Tâm, có Thực Thể khác thì chỉ có 2 hoặc 3 Tâm. Do đó những Thực Thể có số lượng Tâm và chất lượng Tâm khá giống nhau sẽ tạo ra một Cõi, một Cảnh Giới theo Định Luật Tương Ưng của Tâm. Ở các Cõi Giới khác nhau thì thời gian trôi đi sẽ khác nhau. 

Sau đây chúng ta hãy quan sát một bảng mô tả tổng quát về các Cảnh Giới. Có bốn Cảnh Giới cơ bản là: 

Dục Giới / Sắc Giới / Vô Sắc Giới / Niết Bàn.
- Dục Giới gồm 11 cõi: Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sanh, A tu la, Loài người, Tứ đại thiên vương, Tam thập tam thiên, Dạ ma, Đâu xuất, Hóa lạc, Tha hóa tự tại. 
- Sắc Giới gồm 4 cõi: Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền. 
- Vô Sắc giới gồm 4 cõi: Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ.

Theo mô hình nêu trên, thì con người sống trong một trong 7 Cảnh Thiên. Lối sắp xếp này mang nặng tính chất minh họa, chúng ta tạm thời chấp nhận như một định đề.

Vẫn theo truyền thống Vi Diệu Pháp, Cõi người mà chúng ta đang sinh hoạt không có gì đáng để khuyến khích và ca ngợi, kể cả những Cõi cao hơn, sống lâu hơn, hạnh phúc hơn … cũng vậy. Thật thế, qui luật Sanh, Lão, Bệnh, Tử có hiệu lực trên tất cả các Thực Thể. Đó là tấn bi kịch đau đớn nhất cho tất cả các Thực Thể.

Cách duy nhất để tránh khỏi tai họa này là tu Thiền Định, một công cụ có khả năng chấm dứt các phiền não. Không có một Thần Linh, một Thượng Đế nào có thể giúp được mình, chính bản thân các vị Thần Tiên cũng bị Sanh, Lão, Bệnh, Tử chi phối. Do đó, van vái, cầu xin, cúng tế cũng chẳng giải quyết được gì, vì định luật Nhân Quả của thế giới tự nhiên là một định luật khách quan không phân biệt đối xử với tất cả các Thực Thể ở các Cõi, các Cảnh Giới.

Để tránh trình bày một cách quá lý thuyết về lộ trình của Tâm của người tu ThiềnĐịnh, chúng ta thử giản lược bằng 3 phần nêu sau: 

1. Con người là một tập hợp khoảng gần 200 đơn vị Tâm, những Tâm này luôn luôn chuyển động. Tuy nhiên, lại có một số Tâm hay vượt ra ngoài tầm kiểm soát của con người. Thật sự những Tâm này chính là Bản Năng Bảo Tồn của con người, nếu không có nó, loài người không thể tồn tại và phát triển, nhưng Vi Diệu Pháp lại coi những Tâm này là Bất Thiện Tâm. 

2. Khi tu Thiền Định thì có khoảng 5 cho đến 2 Tâm chánh (Tầm, Tứ, Nhất Tâm, Hỷ, Lạc), cộng với ít nhất là 35 Tâm Sở, gồm có: 22 Tịnh Quang Tâm Sở, 7 Biệt Hành Tâm Sở, 6 Biệt Cảnh Tâm Sở. Đến khi thực sự Nhập Định, thì chỉ còn có 2 Tâm: Nhất Tâm  Lạc. 

3. Bản chất của Thiền Định theo phần trình bày trên, rõ ràng chỉ là việc loại bỏ hầu hết các loại Tâm không cần thiết cho sự tồn tại của một Thực Thể. Hiện tượng này chỉ xẩy ra trong lúc Nhập Định, khi đi ra khỏi trạng thái Nhập Định thì số lượng Tâm trở lại trạng thái vốn có của mình. Mặc dù số lượng Tâm không biến đổi là bao, nhưng người tu Thiền Định trải nghiệm qua những lúc Nhập Định có thay đổi lớn lao về tâm lý. Tâm lý này người ta cũng tìm thấy ở những người Cận Tử. Để kết luận bài này, chúng tôi xin được đề xuất một phương trình như sau: 

Một Thực Thể tương tác với một lực hoặc một năng lượng nào đó đủ mạnh thì sẽ chuyển biến  chuyển qua các chiều không gian khác