Tuesday, April 8, 2014


Bài số 2

Lời thưa của người thuyết minh:

Kính thưa quí độc giả!

Có lẽ ai cũng biết, vẽ ma ai cũng có thể vẽ được, không cần phải có một khả năng thiên phú, không đòi hỏi một sự chuẩn bị trước, dựa trên cơ sở là tập luyện. Nhưng vẽ truyền thần thì hoàn toàn ngược lại. Cũng vậy, bàn bạc, tranh luận, đánh giá các lý thuyết về kỹ năng xuất hồn… thì ai cũng có thể làm được cả. Nhưng hiểu được lý thuyết, thực hành (practice) kỹ năng xuất hồn thì có lẽ lại là một vấn đề khác.

Có lẽ để động viên những người tu hành, cho nên tác giả Lobsang Rampa cho là ai cũng có thể hiểu và thực hành được, chỉ cần thực tập, thực tập, thực tập… là mọi việc OK rồi! Nếu chúng ta để ý từ những chương đầu tiên đến những chương cuối cùng của tài liệu You-Forever, chúng ta sẽ thấy tác giả luôn luôn nhấn mạnh:
“Dealt with the method of getting ourselves into the trance stage” và phải “ We have to practice that several time” để chúng ta có thể “We can get into the trance stage” (Chúng ta phải giải quyết về vấn đề phương pháp để có thể đạt được trạng thái tâm lý trống vắng. Do đó, chúng ta phải tập luyện và tập luyện…để cuối cùng, chúng ta đạt được trạng thái trống vắng).

Kính thưa quí độc giả!

Có lẽ tác giả đã cố tình đơn giản hóa, tránh sử dụng từ ngữ nhập định mà lại sử dụng một thuật ngữ của bộ môn thôi miên là “trance stage”. Như quí độc giả đã biết, với từ ngữ  thì thông thường người ta nghĩ ngay tới trạng thái hôn mê, không biết gì cả, hay là sự mất ý thức. 

Trên thực tế có lẽ việc tập xuất hồn không đơn giản như vậy. Điều này có nghĩa là không phải ai cũng có thể tập được chỉ với mỗi một việc là thực tập và thực tập... Chắc quý  độc giả còn nhớ, đây là một tài liệu bán chạy nhất (Best seller) một thuở nào đó trong thời gian trước đây. Có lẽ thời gian đó cách đây cũng đã lâu lắm rồi. Nhưng hình như thời ấy cũng không ai thực hiện được cả. Hoặc có thể có người thực hiện được, nhưng không công bố ra. Do đó, người ta đã đặt ra một số giả thuyết về trường hợp này như sau:

  1.    Phải chăng đây là một tài liệu giáo khoa giả hiệu. 

  2.    Đây là một tài liệu giáo khoa thực sự, nhưng vì thiếu hiểu biết chuyên ngành - cụ thể là kỹ năng thiền định. Do đó không thể tập được.

Rất có thể tài liệu giáo khoa này, đòi hỏi những kỹ năng chuyên ngành cao hơn người ta tưởng, dường như bản lĩnh thiền định là yếu tố cần thiết. Mặt khác, còn đòi hỏi phải có một sự hiểu biết sâu sắc về bộ môn luận của Phật giáo nguyên thủy?


       Chúng ta trích dẫn một lời phát biểu sau đây như một bằng chứng cho nhận xét nói trên: “Thought is where you want it to be. That is a formula which really can assist us to get out of the body.” (Xin phép phỏng dịch: Tư tưởng, cái tâm của mình nó sẽ ở đâu do chính mình muốn. Đó là một công thức thực sự giúp đỡ chúng ta để thực hiện kỹ năng xuất hồn.)

      Kính thưa quí độc giả! 


       Chúng tôi xin phép được nhắc lại. Giả thuyết là tác giả Lobsang Rampa là một Lạt Ma Phật giáo Tây Tạng - được học tập, quán triệt rất kỹ lưỡng và thấu đáo bộ môn Vi Diệu Pháp. Và ở đây tác giả đã sử dụng từ ngữ "tư tưởng". Nhưng chúng ta phải hiểu từ "tư tưởng" là cấu tạo tâm của một thực thể. Muốn hiểu cấu tạo tâm, cấu tạo sắc của một thực thể thì đòi hỏi người đọc phải có kiến thức toàn bộ về bộ môn Vi Diệu Pháp. Rất có thể, nhằm mục đích phổ biến kiến thức huyền môn, tác giả đã Tây phương hóa các kiến thức cốt lõi của tài liệu VDP? Rất mong nhận được những trao đổi quý giá từ quí độc giả qua hòm thư: thiendinh.hhn@gmail.com hoặc mong nhận được sự đóng góp qua phần bình luận của quý vị!



Chúng ta bắt đầu bài số 2.

Hầu hết mọi người đều nghĩ rằng chúng ta không có cách nào để rời bỏ cơ thể vật chất, bởi lẽ văn hóa của người Tây phương nói chung, khoa học của người Tây phương nói riêng, đã đào luyện cho chúng ta để không tin tưởng vào những điều tương tự.

Trẻ em tin tưởng vào những câu chuyện thần tiên, chỉ có những ai có thể thấy và chuyện trò với những thực thể siêu nhiên mới tin và hiểu. Biết bao nhiêu trẻ em đã chơi đùa với nhưng thực thể vô hình. Đối với người trưởng thành thì cho là trẻ em sống trong thế giới tưởng tượng. Trẻ em nói chuyện với những người bạn vô hình mà người trưởng thành đa nghi không thể nhìn thấy được. Đối với trẻ em thì đó là những người bạn có thật.

Người trưởng thành cho là trẻ em đã nói dối hoặc sống trong tưởng tượng. Thế rồi trẻ em đã bị thôi miên, bị thuyết phục bởi những tư tưởng đó để tin là không có những thực thể ở thế giới siêu nhiên.

Hầu hết tâm (linh hồn) mọi người đều rời bỏ thân xác vật lý trong giấc ngủ ban đêm. Khi tỉnh dậy, họ nói rằng họ đã có một giấc mơ. Lại một lần nữa, nhân loại được học hỏi là đời sống trên trái đất là có thật và người ta không thể xuất hồn trong khi ngủ. Do đó, những kinh nghiệm tuyệt vời đã được hợp lý hóa thành những giấc mơ.

Rất nhiều người tin rằng họ có thể rời bỏ thân xác theo ý muốn của mình và du hành thật xa, thật nhanh; rồi quay trở lại thân xác sau nhiều giờ với đầy đủ các kiến thức và trải nghiệm mà họ đã có được khi xuất hồn. Điều này có thể làm được với điều kiện là họ phải đạt được sự định tâm và họ phải tin rằng họ làm được. Nếu ai đó không tin vào điều này thì không thể nào làm được. Vì trở ngại lớn cho việc xuất hồn là sự sợ hãi.

Sợ hãi là một lực cản trở, nó giống như một cái phanh xe (cái thắng) cho công việc này.  Người ta cho rằng nếu xuất hồn thì người ta sẽ chết. Với ý nghĩ là khi xuất hồn ra khỏi thân xác thì người ta không thể quay lại thân xác vật lý của mình nữa, và điều này làm cho họ vô cùng kinh sợ! Hơn nữa, họ cũng e ngại rằng trong khi xuất hồn sẽ có những thực thể khác như ma, quỷ bước vào chiếm hữu và sử dụng thân xác của mình. Việc này hoàn toàn không thể xảy ra được, trừ khi sự sợ hãi chính là cánh cửa mở ra để đón chào những thực thể không rõ nguồn gốc. Một người không sợ hãi thì sẽ chẳng có việc gì xảy ra cả, vì sợi dây bạc không thể đứt trong khi xuất hồn. Không có ai có thể xâm chiếm cơ thể của mình; trừ khi sự sợ hãi sẽ chính là sự mời mọc các thực thể khác xâm chiếm cơ thể của mình.

Chúng ta luôn có thể quay về cơ thể vật chất bất cứ lúc nào. Nó giống như việc  ta nằm mơ đi đâu đó rồi quay trở về thân xác mà  khi tỉnh dậy chúng ta hoàn toàn bình thường. Việc cản trở lớn nhất chính là nỗi sợ hãi. Sự sợ hãi chính là nguyên nhân tạo ra các mối nguy hại.

Tư tưởng và lý luận là hai vấn đề tạo thành một bài toán khó cho việc thực hiện xuất hồn. Hai yếu tố nói trên đã làm cho chúng ta không dám leo lên những đỉnh núi cao. Lý luận bảo chúng ta rằng chúng ta có thể bị trượt té và tan ra từng mảnh. Do đó, chúng ta phải tìm cách loại bỏ tư tưởng và lý luận.

Có bao giờ bạn suy nghĩ về vấn đề tư tưởng? Tư tưởng là gì? Tư tưởng ở đâu? Phải chăng lúc chúng ta suy tưởng thì tư tưởng ở trên đỉnh đầu,  ở đằng sau não bộ,  ở trước trán, hay ở 2 bên tai? Khi chúng ta nhắm mắt thì chúng ta có thể ngừng suy nghĩ được hay không? Không! Khi chúng ta tập trung ở đâu, thì tư tưởng ở đó. Chính sự hiểu biết đơn giản và nền móng này giúp chúng ta trong việc xuất hồn và có thể du hành sang thế giới bên kia. Nó giúp chúng ta du hành sang thế giới bên kia một cách nhẹ nhàng như một làn gió thoảng. 

Chúng ta nên suy nghĩ về điều này, đọc đi đọc lại bài viết này và suy nghĩ về vấn đề tư tưởng. Tư tưởng làm  chúng ta lùi bước như một rào cản. 

Hãy lấy một thí dụ, có một hôm nào đó chúng ta ở trong một ngôi nhà giữa vùng hoang vắng một mình giữa ban đêm điện mất. Ở ngoài thì gió đang hú lên từng cơn; bạn có thể âu lo vì sợ những kẻ trộm, cướp; hoặc tưởng tượng là ai đó nấp ở sau màn cửa, sẵn sàng nhảy ra để chụp lấy bạn. Hay nhiều khi thần hồn nát thần tính, bạn có thể tưởng tượng ra nhiều điều kinh dị khác qua những bộ phim kinh dị mà bạn đã từng xem. Đó, chúng ta thấy không? Tư tưởng có thể làm hại chúng ta như vậy. 

Và khi bạn bị đau răng, phải đến nha sĩ. Ngồi trên ghế, bạn đã tưởng tượng nó đau như thế nào. Nha sĩ vừa cầm ống tiêm  bạn đã sợ đến tái mặt. Tại sao vậy? Vì bạn nghĩ rằng nó sẽ đau lắm! Chiếc kim sẽ cắm vào lợi của mình, rồi nha sĩ sẽ lấy kìm nhổ chiếc răng đầy máu. Rất có thể bạn  sợ đến ngất xỉu. Chính bạn đã cung cấp sự sợ hãi cho mình, Tư tưởng và năng lượng tập trung vào làm cho bạn cảm thấy cái răng trở nên đau hơn. Đã bao giờ bạn tự hỏi tư tưởng ở đâu chưa nhỉ? Tư tưởng ở trong đầu. Tư tưởng sẽ ở đâu, nếu chúng ta tập trung tinh thần ở đó. Tư tưởng sẽ ở trong bạn, nếu bạn nghĩ là tư tưởng ở trong mình. Sự thật tư tưởng nó sẽ ở đâu đều do mình muốn, nó do sự hướng dẫn của chính bản thân mình.

Mong quí độc giả ghi nhận “ người ta tập trung tư tưởng ở đâu, thì nó ở đó” (Thought is where you concentrate)

(Một lần nữa, HHN xin phép nhắc lại, những lời phát biểu tương tự như thế này thực sự đã bắt nguồn từ tài liệu Vi Diệu Pháp. Tài liệu này mô tả cấu trúc của một thực thể theo Đệ nhất nghĩa đế gồm có rất nhiều thành phần, tùy trường phái luận mà số lượng có khác nhau. Nhưng ở đây chúng ta chỉ chú ý đến hai thành phần là: cơ thể vật chấttư tưởng cộng với  lý lẽ. Có thể 3 từ ngữ này được hiểu là:

-         Sắc – Vật chất
-         Tâm – Tư tưởng
-         Lý lẽ - Thức

Theo quan điểm của Vi Diệu Pháp, những thành phần này (sắc, tâm và lý lẽ) hoàn toàn không cố định, chúng luôn luôn biến đổi vì rất nhiều lý do. Cụ thể như là yếu tố vật chất ở cảnh Dục giới có thể có đến mấy chục yếu tố và tương thích với mấy trăm yếu tố tâm. Nhưng ở cảnh giới Sơ thiền hữu sắc, thì yếu tố tâm Vương cộng với khoảng 35 tâm Sở rõ ràng đã giảm đi một cách rõ rệt so với cấu tạo sắc và tâm ở cảnh dục giới. Chính vì lý do này mà có thể những quí độc giả đã từng tu thiền định ý thức được về cái tôi của mình rất rõ ràng, nhưng vẫn theo nhiều người trong số họ kể lại thì họ ý thức được cái tôi mà  lại không thấy thân xác vật lý mình đâu! Hiện tượng này vô cùng phổ biến, mà cũng chẳng ai hiểu tại sao! 

Với tài liệu Vi Diệu Pháp, thì việc này hoàn toàn có thể giải thích được. Khi tập trung tư tưởng thực sự, số lượng tâm Vươngtâm Sở tương thích với cảnh giới hữu sắc, thân xác vật lý lại cấu tạo số lượng sắc nguyên vẹn. Do đó, vô tình người tập trung tư tưởng này đã xuất hồn một cách ngoài ý muốn. Thật vậy, nếu ai đó hỏi họ rằng bạn có xuất hồn bao giờ chưa, thì họ sẽ trả lời là chưa hề xuất hồn bao giờ! Sự thật đã xảy ra hiện tượng này, mà rất nhiều người tu thiền định không hề hay biết. Họ chỉ thuật lại đơn giản là: "tôi không thấy thân xác")


          ( Còn tiếp)

Sunday, April 6, 2014


LỜI THƯA!

Kính thưa quí độc giả!

Loạt bài viết này, không dựa trên một cơ sở nào đáng tin cậy cả, vì có quá nhiều thông tin trái chiều về chính bản thân tác giả. Những bài viết này không được một cơ quan nào có thẩm quyền xét duyệt. Do đó, không có giá trị xét ở bất cứ bình diện nào. Rất mong quí độc giả lưu tâm!

SAO MAI says:

Xin chào chị HHN! Vâng, em cũng biết đây là một đề tài nhạy cảm, tế nhị…. Có vẻ đây là một sự khiêu khích công khai cả khoa học cũng như huyền môn…. Nó đụng chạm đến quá nhiều những mặc định, những quy ước của xã hội. Rõ ràng đây là một con đường “ Ma đưa lối, quỷ đưa đường – Lại tìm ra những đoạn trường mà đi”

HHN says:

Đúng đó Sao Mai!

Lịch sử khoa học cho biết bộ môn khoa học nào ra đời, mà để cuối cùng được người đời công nhận, hầu như cũng đều phải trả giá rất đắt! thậm chí bằng sinh mạng của các khoa học gia. Ngày hôm nay, hầu hết mọi người trên thế giới đều được hưởng một nền giáo dục có cơ sở khoa học một cách dĩ nhiên. Có lẽ nhiều người không thể ngờ được rằng những bộ môn khoa học của Âu Châu mà chúng ta đang tiếp cận đã phải đấu tranh gay gắt với sự thống trị của Kitô giáo trong nhiều thế kỷ. Vòng Kim cô của Thiên Chúa giáo chỉ mới được cởi bỏ vài trăm năm nay. Chúng ta hy vọng ở thế kỷ 21 này, xã hội loài người sẽ độ lượng hơn, hào phóng hơn với những tư tưởng được xã hội mô tả là ngoại đạo, không coi ai đó là người ngoại đạo, là phản đồ đáng nguyền rủa. Thật vậy, ai dám khẳng định “Thục Đế là chim Đỗ Quyên, hay chim Đỗ Quyên là Thục Đế” .


Kính thưa quí độc giả!

Bây giờ chúng ta bắt đầu tìm hiểu về bài học đầu tiên của kỹ năng xuất hồn.

Rất mong quí độc giả lưu tâm! Đứng trên quan điểm chủ quan của tác giả, thì đây là một chủ thuyết (Doctrine) chứ không phải là một giả thuyết (Hypothesis).

Đầu tiên chúng ta cùng tìm hiểu về cấu tạo tâm hay tư tưởng của con người (Theo truyền thống Đệ nhất nghĩa đế và để hiểu được Đệ nhất nghĩa đế một cách chi tiết, bài bản,  thì trong chương trình học chính quy của  Mật Tông Tây Tạng phải học tài liệu Vi Diệu Pháp.) Ở đây chúng tôi cũng nói đến tiến trình tâm của con người (không phân biệt giới tính và tuổi tác) - dựa trên cơ sở phân tích tâm con người của tài liệu Vi Diệu Pháp. 

(Để hiểu hơn về tâm, các lộ trình của tâm, và tâm tương ưng với cảnh giới nào, xin quý vị độc giả vui lòng xem những bài "Các loại tâm vương trong Vi Diệu Pháp" (từ bài 1 đến bài 6) ở trong trang blog này)

Cơ thể con người được cấu tạo gồm có nhiều loại yếu tố  khác nhau: hồn, phách, vía…. Chúng cùng định cư trong một thân xác vật lý. 

Tại sao những loại yếu tố  này lại có thể cùng hiện hữu trong cùng một lúc, cùng một nơi? 

Trả lời: Vì các yếu tố  có cấu trúc khác nhau. ( lời giải thích của HHN: theo quan điểm của Vi Diệu Pháp, thì các yếu tố này khác nhau về số lượng tâm, số lượng sắc – Tinh thần, vật chất. Khi chúng có những cấu trúc khác nhau, thì chúng hiện hữu ở những loại không gian khác nhau trong cùng một thân xác vật lý). Chúng ta có thể so sánh điều này trong cuộc sống đời thường bằng những ví dụ như sau:

-         Sóng cơ học âm thanh
-         Sóng điện từ
-         Lực tương tác hấp dẫn
-         3 lực còn lại
-         Khối lượng của một vật bất kỳ
-         V.v...

Những yếu tố kể trên hoàn toàn có khả năng hiện hữu trong cùng một thời điểm ở cùng một không gian bất kỳ nào đó.

Phần hồn (Astral body) và cơ thể vật lý được nối với nhau bằng một sợi dây bạc (silver cord). Sợi dây bạc này có tần số dao động rất cao, nó giống như dây rốn (umbilical cord) nối giữa người mẹ và một thai nhi. Người mẹ nuôi thai nhi này qua dây rốn này. Khi em bé được sanh ra đời, lúc này trở thành hai thực thể riêng biệt, sợi dây rốn không còn cần thiết nữa.

Sợi dây bạc cũng nối siêu ngã (Overself) và cơ thể con người. Sợi dây này hiện hữu suốt thờ gian cơ thể vật chất tồn tại trong cuộc sống thế gian. Chính sợi dây bạc này đã nuôi nấng, chỉ huy, chỉ bảo cho cơ thể vật chất ở thế gian. Do đó, khi con người chết, sợi dây bạc này không còn cần thiết  nữa, cơ thể vật chất được bỏ lại như một chiếc áo cũ và linh hồn sẽ ra đi.

Thật ra chúng ta có đến 9 loại yếu tố tinh thần cơ thể khác nhau, có đến 9 loại sợi dây bạc. Nhưng ở đây chúng ta chỉ quan tâm tới cơ thể vật chất và linh hồn.

Con người là một linh hồn được chứa ở trong một cơ thể bằng xương, bằng thịt. Cơ thể vật chất này rất cần thiết! Nếu không có cơ thể vật chất, thì linh hồn không có công cụ để học hỏi những bài học mà nó cần phải học. Cơ thể vật chất là một công cụ được lèo lái, điều khiển bởi siêu ngã. Người ta thường sử dụng từ ngữ này là linh hồn (soul). Nhưng chúng tôi đề nghị sử dụng từ ngữ siêu ngã (overself), vì lý do từ này tiện dụng hơn nhiều. Siêu ngã là người kiểm duyệt, là người lèo lái chiếc xe cơ sở vật chất. Não bộ con người là một cơ sở tiếp nối, để trao đổi những thông tin. Nó giống như khi chúng ta sử dụng điện thoại để trao đổi thông tin.  Chúng ta có thể hình dung như thế này: khi có những thông điệp được xuất phát từ siêu ngã, những thông điệp này được chuyển đổi thành hiệu ứng hóa lý, làm cho con người sinh sống, tồn tại, nó tạo nên việc cử động của cơ bắp và một số tiến trình tâm lý.

Để thoát ra khỏi sự giới hạn của cơ thể vật chất, giống như một người lái xe tạm thời rời bỏ chiếc xe hơi của mình. Con người chúng ta có thể vươn tới những thế giới tâm linh cao hơn, hơn là khi chúng ta bị giam hãm trong cơ thể vật chất. Khi chúng ta rời bỏ cơ thể vật chất, siêu ngã (hay linh hồn con người) có thể du hành tới những khoảng cách rất xa chỉ trong nháy mắt. Siêu ngã con người có thể đi đến bất cứ đâu, bất cứ nơi nào. Thậm chí là người ta có thể gặp lại những người bạn cũ, hay những thân nhân của mình.

Với việc thực tập, chúng ta có thể đến thăm những thành phố trên thế giới, những thư viện vĩ đại ở năm châu; ta có thể đọc bất cứ một trang sách của một cuốn sách nào mà ta muốn. Thật ra nó là một việc vô cùng dễ dàng (tất nhiên với thực tập) - nếu các bạn thực hành thiền định và đạt được sự định tâm.

 Có một điều là HHN xin lưu ý các bạn:  Tài liệu You-Forever của tác giả Lạt Ma Lobsang Rampa được viết trong thời gian chưa có internet, chưa có google. Ở trong thời đại này, muốn tìm hiểu tư liệu và kiến thức là cả một công việc vô cùng phức tạp, đòi hỏi phải có những kiến thức khá uyên bác - có lẽ cần biết nhiều ngôn ngữ và cần phải tìm hiểu từ bách khoa tự điển và những tài liệu khác ở trong thư viện. Thời xưa phương tiện thông tin truyền thông không được như bây giờ. Có những văn bản và tài liệu đã được viết cách đây cả thế kỷ. Phải nói rằng đó là thảm họa cho những người thích học hỏi thời bấy giờ.


 ( Còn tiếp)


Saturday, April 5, 2014



-         Tìm hiểu và thực tập theo thuyết của tác giả Lạt Ma Lobsang Rampa
-         Xuất hồn có thể đáp ứng hai yêu cầu:
1.     Điều kiện ắt có và đủ của các lớp thiền định
2.     Chủ động trong cái chết

SAO MAI says:

Chào chị HHN!

Theo chỗ em biết thì có thiếu gì phương pháp để thực tập việc xuất hồn. Chỉ cần đánh mấy chữ Obe là chúng ta có một dãy dài vô tận nói về việc xuất hồn. Mặt khác, em có đọc trong những tài liệu thôi miên của người Pháp, thì được biết thôi miên ở một giai đoạn nào đó có thể làm cho người ta xuất hồn. Thực tế em từng chứng kiến một buổi thôi miên. Người thôi miên dẫn dụ bằng tiếng nói và năng lượng của con người, hai bàn tay mở ra, kéo từ trên vai xuống dưới bụng, có khoảng cách với người bị thôi miên khoảng 5 - 7 cm, chỉ 5 - 7 phút trôi qua, thì người được thôi miên đã chìm vào giấc ngủ thôi miên. Sau khi được làm tỉnh lại, người bị  thôi miên có kể lại như sau. Theo hướng dẫn bằng tiếng nói của người thôi miên, người bị thôi miên đã đi đến một rạp hát, có vào mua vé và đưa vé cho người kiểm soát, có xem một khúc phim… sau đó trở về thân xác. Hiện tượng này đối với khoa học hiện đại thì cho là ảo giác, ảo ảnh…. Đối với quan điểm của một số trường phái, thì cho đây là cảnh hữu sắc!

Chị HHN à! Vậy thì ai đúng, ai sai? Giả thuyết câu chuyện kế trên là có thật, thì việc tập luyện xuất hồn làm chi cho cuộc đời thêm rắc rối? Kể cả việc chọn tác giả Lobsang Rampa để học hỏi thực tập có vẻ quá vất vả!

Mặt khác, chị HHN à! Em có tham khảo vấn đề này trong wikipedia. Hầu hết các khoa học gia đều cho rằng xuất hồn chỉ là ảo giác, ảo tưởng. Đó là hệ quả của tâm, sinh, lý, hóa của não bộ con người. Cụ thể là thế này, người ta kích thích não bộ ở một số điểm nhất định nào đó thì tạo ra cảm giác xuất hồn.

HHN says:

Theo chỗ chị nghĩ thì đây là một công việc khá đơn giản, hình như “sự thật vốn đơn giản”, đơn giản đến mức người ta không ngờ. Nếu tác động tâm, sinh, lý, hóa… tạo ra được trạng thái xuất hồn thì có gì là mâu thuẫn đâu? Thật vậy, có rất nhiều hiện tượng khách quan, chủ quan làm cho người ta xuất hồn. Cụ thể là nếu có một cái hồn nào đó đã tách ra khỏi thân xác vật lý. Chúng ta có thể kể ra rất nhiều nguyên nhân đưa đến trạng thái xuất hồn; chứ chẳng riêng gì tác động tâm, sinh, lý, hóa… tạo ra trạng thái xuất hồn.

-         Cơ thể vật chất hư hỏng vượt qua một giới hạn nào đó thì cái hồn không thể tồn tại được, tự động tách ra khỏi cơ thể vật lý. Thông thường người ta gọi là cái chết.

-         Cơ thể vật lý bị hư hỏng ở một mức độ nào đó, tuy nhiên có thể phục hồi được do tác nhân là con người, hoặc do tác nhân khác là tự phục hồi. Có lúc cái hồn đã đi ra khỏi thân xác trong cơn mê sảng, có thể là trạng thái cận tử, sau đó lại phục hồi ở trạng thái nguyên trạng.

-         Thiền định, nếu bước qua định dục giới, khi đạt đến sơ thiền hữu sắc thì cái hồn không còn tương thích với cơ thể vật chất với khoảng mấy chục yếu tố sắc pháp. Giải thích theo Vi Diệu Pháp, thì cấu tạo tâm và cấu tạo sắc pháp không còn tương thích. Chính vì lý do này, con người mất đi những bản năng vốn có như là: bản tánh sắc, ….

-         Các hóa chất khi tác động đến cơ thể vật lý vượt qua một số giới hạn nào đó, thì cơ thể vật chất và cái hồn không còn tương thích.

-         Và còn nhiều trường hợp khác….


SAO MAI says:

Em cũng có vài người bạn, họ đã có đọc tài liệu You-Forever một cách hết sức kỹ lưỡng. Một trong số những người bạn này của em đang sống ở bên Úc,  có thắc mắc như sau. Theo tác giả nói trên, thì một con người bình thường có đến 9 loại con người lồng trong một con người. Em đồng ý đây là một quy ước, một sự mặc định. Họ cho rằng đây là một nghịch lý, không thể nào có hai vật cùng hiện hữu một lúc trong cùng một không gian. Nôm na mà nói, một cái ly chứa được một lít nước, đã có một lít nước, thì không thể nào đổ thêm một lít nữa được, mà đổ thêm 9 lít thì lại càng không thể được (It is impossible for two objects to occupy the same space )

HHN says:

Sao Mai à, chỉ cần có chút ít kiến thức vật lý là có thể hiểu vấn đề một cách dễ dàng bằng những mô hình vô cùng đơn giản, mà có lẽ ai cũng có thể hiểu được.
Trước nhất, chúng ta nên phân biệt các loại thân xác mà tác giả nói trên đề cập tới:

-         Thân xác vật lý (Physical body)
-         Hồn ( Soul)
-         Thể vía (Astral body )
-         Thể phách (Etheric body)
-         Vv…

Những tưởng chúng ta nên nhắc lại, Lobsang Rampa thuộc trường phái Tây Tạng Phật giáo. Tất nhiên, ông quan niệm về cấu tạo các loại thực thể hết sức mềm dẻo, đa dạng về chủng loại, phong phú về mặt cấu tạo tâmsắc. Do đó, chúng ta có thể hiểu được rằng các loại  thực thể kể trên có cấu tạo tâm và sắc khác nhau về số lượng, khác nhau về cấu tạo. Bởi thế chúng có thể hiện hữu cùng một điểm, cùng một thời gian không gặp trở ngại nào cả.

Để minh họa vấn đề này, chúng ta có thể lấy một thí dụ khá đơn giản:

-         Lấy một không gian bất kỳ, trên mặt nước biển 1m, khung tham khảo là không gian 3 chiều… Trong không gian này có rất nhiều tính chất vật lý hiện hữu. Một vật bất kỳ nào đó khá phổ thông như cái bàn, cái ghế chẳng hạn: có khối lượng,  trọng lượng, sự hiện hữu của cả 4 lực tương tác…. Nói tóm lại, trong cuộc sống đời thường, hiện tượng này thường xuyên xảy ra bất cứ ở đâu, bất cứ lúc nào, chứ không phải là một hiện tượng hiếm hoi gì.


Sao Mai says:

Em hiểu rồi chị ạ! Xin chị vui lòng cho biết ý kiến về phần đầu của câu hỏi.

HHN says:

Từ ngữ "hồn" là một từ ngữ mang đầy tính chất mơ hồ. Thậm chí như một ngôn ngữ phổ thông là tiếng Anh, cũng có rất nhiều từ ngữ để chỉ cái hồn: Soul, Spirit, Subtle body, Etheric body, Mental body, Astral body…

Sự hiện hữu và tồn tại của cái hồn hay là cái tôi gì đó….được thấy rõ nhất ở hai hiện tượng: đầu thai, tái sanh, cận tử…Đây là những hiện tượng có thể bảo là thụ động. Tuy nhiên, lại có những hiện tượng chủ động như: thiền định, thôi miên, sử dụng hóa chất….

Theo một số tài liệu của người Pháp trong lĩnh vực thôi miên, người ta có ghi lại là: với kỹ thuật thôi miên ở một mức độ nào đó thì có một đám mây mù tụ lại từ từ theo hình dáng của người bị thôi miên (điều này không kiểm chứng được).

Trường phái thiền định thì lại cho biết, có những trường phái thiền định sử dụng kỹ thuật nào đó để xuất hồn, mục đích là để đi lên những cảnh giới cao hơn nữa, mà người ta cho là để học đạo. Tuy nhiên, mọi việc lại không suôn sẻ như vậy. Trên con đường đi đâu đó lại xảy ra đụng độ mang tính chất bạo lực với những thực thể ở cõi giới khác ( điều này không thể kiểm chứng được).

Còn rất nhiều trường phái không thể kể hết.

Kính thưa quí độc giả!

Sở dĩ chúng ta chọn giả thuyết của tác giả Lobsang Rampa vì tài liệu này tương đối rất chi tiết và có thể bảo là mang tính chất logic cao, giải thích dễ hiểu, ít nhiều phù hợp với vật lý hiện đại. Mặt khác, còn chứa đựng tính chất sư phạm khá phổ biến (Ở đây chúng ta không đề cập đến giả thuyết này là khoa học hay là khoa học giả hiệu)

Chúng ta chọn cách tiếp cận với tác phẩm này bằng cách nào đây?

Tác phẩm được viết bằng tiếng Anh. Đây là một ngôn ngữ phổ biến có lẽ ai cũng biết ít hay nhiều. Dường như người ta có dịch ra tiếng Việt Nam.

Kính thưa quí độc giả!

Ai cũng biết chúng ta có thể mua một giáo trình tiếng Anh, tiếng Pháp, toán, vật lý… của một hệ thống giáo dục nào đó ở hiệu sách. Tất nhiên, cũng có người tự học, nhưng hầu hết chúng ta cần phải có người hướng dẫn gọi là thầy. Tài liệu You-Forever cũng không ngoại lệ. Thiết tưởng chúng ta cần phải có ai đó am tường về vấn đề này trong lý thuyết cũng như thực hành. Ngay cả vấn đề ngôn từ, các bộ môn đều sử dụng những thuật ngữ mang tính chất chuyên đề. Ví dụ động từ spin là tự quay trên mình, những ai học tiếng Anh đều hiểu từ spin này mang ý nghĩa như vậy. Cụm từ "bất định" cũng không ai lạ gì. Nhưng trong vật lý lượng tử, chúng lại mang những  ý nghĩa khác hẳn. Nói một cách khác, chúng ta cần phải có một người để giải thích các từ ngữ chuyên ngành.

Chúng tôi sẽ chọn cách phỏng dịch, thuyết minh, minh họa, đóng góp ý kiến và căn cứ vào những kinh nghiệm thực tế nữa. Tài liệu này cũng như các tài liệu khác thuộc bộ môn này, có những khó khăn sau đây:

-         Được coi như  “một đứa con ngoại hôn” của vật lý
-         Bộ môn "ngoài luồng” của kiến thức nhân loại
-         Từ ngữ mang đầy tính chất mơ hồ
-         Những hiệu ứng mang tính chất chủ quan.
-        Đích thực là thiên đường, cho những ai thích tranh luận hơn là thực hành

( Còn tiếp)





Đức Phật Thích Ca ( Sakya Muni) cùng  Đạo Phật ra đời cách đây đã gần 2600 năm. Những chủ thuyết của Ngài về Tứ Thánh Đế, thập nhị nhân duyên  cùng với những thuyết khác như Tánh không, A lại Da thức và Thai tạng giới... là những phần kiến thức vô giá mà chúng ta được kế thừa và học hỏi.

Trước khi những chủ thuyết của Sakya Muni ra đời, tại Ấn độ còn có những tôn giáo khác là Vệ Đà giáo và Bà La Môn giáo phát triển từ Vệ Đà. Những đạo này là đạo cổ của Ấn Độ, nó là quốc giáo, còn được gọi là Ấn Độ giáo.  Ngài Thích Ca đã học tập theo các đạo sĩ đi trước Ngài tu tập nhưng không thỏa mãn được những nhu cầu hiểu biết và những mong mỏi của Ngài nên Ngài đã tự tìm một con đường riêng tu hành, thực hành thiền định và đạt được quả vị giải thoát cùng những kiến thức siêu phàm được Ngài truyền lại cho thế nhân và hậu thế.

Chúng ta đều biết rằng hiện nay trên thế giới không chỉ có Phật giáo là duy nhất. Ngoài Phật giáo còn có Ki-tô giáo, Hồi giáo, Ấn Độ giáo, Tôn giáo dân gian Trung Quốc, Nho giáo…


Nói đến Phật giáo là mọi người chúng ta hiểu rằng đây là đạo của Phật Thích Ca, nhưng nhiều người cũng đánh đổ đồng đạo Phật Trung Quốc thành những giáo pháp của Phật Thích Ca Ấn Độ.

Ngày nay, ở Đông Nam Á có rất nhiều người tu theo trường phái Phật giáo Đại thừa Trung Quốc là Tịnh Độ Tông nhưng lại nói rằng đó là tư tưởng và chủ thuyết của ngài Sakya Muni.

Chúng ta đểu biết rằng có rất nhiều tôn giáo và tín ngưỡng khác nhau. Những tín đồ của các tôn giáo đều có niềm tin và sự ngưỡng mộ với những vị giáo chủ và tôn giáo của mình.  Trong đạo Phật nói chung, các tín đồ tu theo pháp môn nào cũng có niềm tin tín ngưỡng đối với Pháp môn đó. Nhưng do không có kiến thức nên chúng ta cũng lại dễ hiểu lầm đạo Phật Trung Quốc là đạo Phật Thích Ca của Ấn Độ. Đành rằng chúng ta tôn trọng tôn giáo và tín ngưỡng của mỗi người. Nhưng tại sao lại có sự đổ đồng Phật giáo Ấn Độ với Phật giáo Trung Quốc như vậy? Và tại sao có nhiều tín đồ lại tin rằng những pháp môn đại thừa được phát triển tại Trung Quốc lại là những giáo thuyết của Sakya Muni như vậy?

Sở dĩ có chuyện này bởi có quá nhiều kinh giả của người Trung Quốc tạo nên từ những thế kỷ đầu sau công nguyên.

Các chuyên gia nghiên cứu chuyên môn phương Tây gọi kinh ngụy tạo (Apocrypha) là văn học của Á Châu giả mạo kinh của Phật giáo Ấn Độ.


Những loại kinh giả này đã được tạo ra ngay từ lần đầu tiên của hoạt động dịch kinh Ấn Độ ở Trung Quốc từ giữa thế kỷ thứ 2 sau công nguyên. Những văn bản ngụy kinh này  đã được mạo nhận là lời Phật thuyết (words of the Buddha) và được gọi là Kinh (Suttra). Theo ghi chép của đại tạng kinh thì những kinh giả này không ngừng được tạo ra và phát triển cho tới ít nhất là thế kỷ thứ VIII sau công nguyên.  Kinh được tạo ra để nhằm truyền bá những tư tưởng tôn giáo đạo Phật của bản xứ, cũng như truyền những tư tưởng văn hóa truyền thống của địa phương. Những văn bản giả kinh này thường kèm theo những tư tưởng của đạo Khổng và đạo Lão Trung Quốc.

Do có quá nhiều  sự phản đối và phê bình của những người bảo thủ hay tự do của nhóm Phật tử đòi  bảo vệ sự thật, duy trì những nguồn kinh chính gốc. Một phần nữa những nhà làm danh mục phê bình đã lên án kịch liệt kinh giả. Họ lên án các ngụy kinh đã tác động và làm ảnh hưởng đến sự toàn vẹn của sự truyền bá kinh điển Phật giáo tại Trung Quốc. Do có quá nhiều sự phản đối và phê bình, nên đến giai đoạn kết tập in kinh lần đầu tiên vào thời Bắc Tống (971 – 983) thì kinh ngụy tạo mới dần dần được giảm xuống.

Những ngụy kinh này được viết nhằm phục vụ mục đích tâm linh, mục đích chính trị, nó phản ánh bộ máy chính trị - xã hội đương thời của bản địa. Những kinh giả này đã bóp méo và làm thay đổi những tư tưởng, đặc điểm và tính chất của đạo Phật Thích Ca Ấn Độ.

Kinh ngụy tạo được mạo nhận là lời luận giảng về kinh của một số vị thầy có tiếng tăm, hoặc vô danh của Ấn Độ, được gọi là Luận (Sastra). Một số ngụy kinh cũng tuyên bố rằng nó được xuất phát từ tuệ giác của những bậc giác ngộ ở Ấn Độ hoặc được truyền thừa tuệ giác từ dòng phái chính thống. Ví dụ như “các bộ Thánh thư quý báu” (Gterma) của Tây tạng. Có một số ngụy kinh loại văn bản được viết dưới dạng kể chuyện như chuyện Tiền thân Đức Phật (Jataka).

Nhiều khi, trong những cuộc tranh luận về thánh điển mang yếu tố nước ngoài và không tránh được sự chỉ trích của các đối thủ về mặt tôn giáo và tư tưởng như đạo Lão và đạo Khổng, nên phải có sự thỏa thuận và đưa những  tư liệu không có thật vào, như  Bộ Lịch Đại Tam Bảo Kí (Lidai Sanbao Ji – Record of the three Treasures).

Bộ Khai Nguyên Thích Giáo Lục (Kaiyuan Shijiao Lu Record of Sakyamuni’s teaching), soạn vào đời Khai Nguyên năm 730- được cho là hay nhất cũng không tránh được những phần văn bản ngụy kinh.

Kinh Piluo Sanmei jing – the Scripture on the Absorption of Piluo là một cuốn kinh giả mạo nhưng được chứng thực trong danh mục Đại Tạng Kinh lại được soạn bởi nhà sư học giả nổi tiếng Đạo An (312-385).

Các bản kinh ngụy tạo được tìm thấy ở kho cất dấu Đôn Hoàng ở Trung Á, gồm các bản thảo từ thế kỉ thứ 5 đến thế kỉ thứ 11. Và một số bản thảo kinh tìm thấy tại Nanatsu-dera ở Nagoya, Nhật Bản, được kết tập suốt thế kỉ 12.

Cuốn Khởi Tín Luận (Dasheng Qixin lun) bắt trước những đặc tính chính thống của Phật giáo Ấn Độ là: Tánh không (Sunyata), A Lại Da Thức (Alayavijnana) và Thai Tạng giới (Tatha Gatagarbha). Kinh này nói rằng tâm trí con người vừa vô minh lại vừa có giác tánh.

Kinh Phạm Võng (Fanwang Jing, Brahma’s bet sutra) đã thay đổi một phần giới luật của Bồ Tát đạo bằng cách thêm vào giáo lý Hiếu của Đạo Khổng

Kinh Thập Điện Diêm Vương (the Shiwang Jing, the Scripture of the Ten Kings) nói về địa ngục và cai quản địa ngục là Phán quan. Địa ngục kiểu phong kiến này đã phản ánh lại hình thức chính trị - xã hội Trung Quốc thời Trung cổ.


Kinh Nhân Vương (Renwang Jing, Humane King sutra) nói lên thiên tai, dịch bệnh và sự ruỗng mục, suy đồi của mọi tầng lớp xã hội. Và để khôi phục trật tự tôn giáo và bảo vệ sự diệt vong của đất nước thì phải có trí tuệ bát nhã. Kinh này được truyền bá rộng rãi trong thời Trung cổ của khu vực Đông Á…


Người ta cho rằng Kinh ngụy tạo được tạo ra do ảnh hưởng nặng nề của văn hóa truyền thống Trung Quốc. Nó là sự thuyết phục và thỏa thuận đạt được trong việc hình thành một tôn giáo bản xứ. Kinh ngụy tạo được tạo ra do sự tôn sùng kinh điển Trung Quốc và cũng nhằm đáp ứng cho nhu cầu tôn giáo và văn hóa Trung Quốc.

Thực ra đạo nào cũng có cái hay riêng của họ. Đạo Phật Trung Quốc cũng có phương pháp tu thiền. Hay những pháp môn như niệm Phật của Tịnh độ tông cũng có những người chứng đắc với những điều kỳ diệu. Nhưng đánh đổ đồng giữa chủ thuyết hay giáo lý, tính chất và đặc điểm của đạo này với đạo khác là một việc làm không đúng với lịch sử và thực tiễn, là “râu ông nọ cắm cằm bà kia”.



Nguồn tham khảo :

- “Kinh ngụy tạo” của tác giả giáo sư, tiến sĩ KYOTO TOKUNO, dịch giả Phạm Doãn.

- Bách khoa toàn thư Phật giáo, tổng biên tập Robert E. Buswell.Jr





XUẤT HỒN
Qbe- Out Of Body Experience
Experience De Hors Corps
Astralwanderrung
MÊ SẢNG VÌ THẦN THÔNG - Drunk On Supernatural Power


SAO MAI says:

Em xin kính chào chị HHN!

Quả là một đầu đề quá tải, quá cỡ - oversize! Nhưng có lẽ nó phù hợp với một đề tài đã kéo dài qua nhiều ngàn năm của lịch sử  nhân loại. Tuy nhiên, đến nay vẫn là một trong những thách thức của nhân loại, kể cả khoa học hiện đại. Với đề tài này, cùng một bài viết có nhiều chi tiết và vô vàn thông tin, cuối cùng wikipedia đưa đến một nhận xét là: “ Scientists still know little about the phenomenon” (Cho đến ngày hôm nay, khoa học gia cho  biết, người ta hiểu biết  rất ít về những hiệu ứng này).

Em rất hân hạnh được đọc bài viết của chị kỳ vừa rồi! Em thấy có rất nhiều độc giả bình luận - comments. Tuy nhiên, em hiểu không biết có đúng hay không? Dường như những lời bình luận comments này, có vẻ mang tính chất tiêu cực.

Không biết chị có ý nghĩ gì về vấn đề này?

HHN says:

Cám ơn em đã đặt ra câu hỏi để chị và mọi người có cơ hội trình bày quan điểm của mình về vấn đề xuất hồn. Chị có hai ý kiến xin đóng góp:

1.     Em thiết nghĩ  quí độc giả nào có quan tâm đền đề tài này, thì có thể nhận ra ngay là, những bình luận comments nói chung, đều có một nội dung khá quy ước, kinh điển, hàn lâm… của trường phái thiền định Trung Quốc. Điều này em sẽ trình bày ở phần sau. Một điều cần phải nói ngay, theo hiểu biết hạn hẹp của em, thì kinh và luận của trường phái Phật giáo nguyên thủy, người ta có đề cập đến nhiều loại thần thông, kinh của trường phái Raja Yoga cũng có hẳn một chương, dành nhiều chân ngôn, để hướng dẫn tập luyện. Trường phái Phật giáo nguyên thủy, có tác giả lại không sử dụng từ ngữ thần thông, mà lại sử dụng từ ngữ trí tuệ thông suốt để thay thế cho từ ngữ thần thông! Từ ngữ này là để cho người ta liên tưởng tới bộ môn vật lý ngày hôm nay. Có nghĩa là trí tuệ con người phát hiện ra những quy luật vật lý của thế giới tự nhiên, chẳng liên quan gì đến thần thánh cả.

a.     Chúng ta thử chọn lấy một lời bình luận (comments) có tính cách điển hình, em xin phép chép lại nguyên bản sau đây:

“ Pháp Phật không tà, không chánh
Tâm Phật không tà, không chánh
Đi sai đường mới có tà, có chánh
Nhà xưa, ngọc sáng mới là của ta”

     Em xin bắt đầu bằng câu cuối cùng “Nhà xưa ngọc sáng”, đây là một tư tưởng thuần túy của người Trung Quốc. Chắc không ai lạ gì với câu nói sau đây “ Nhân tri sơ, tánh bản thiện”

Xét về mặt tâm lý xã hội, xã hội Trung Quốc có một tập tục, thói quen, cách đặt câu hỏi trong cả đời sống bình thường nêu sau. Thí dụ, ngay cả trong tình yêu nam nữ, một trong hai người có thể đặt câu hỏi sau đây “ Yêu thì sao, không yêu thì sao?...”. Quí độc giả có thể tìm thấy những câu hỏi tương tự như thế này trong những câu đối thoại của phim ảnh Trung Quốc ngày hôm nay. Ít nhất đối với người Việt Nam, chúng ta cũng không biết nên trả lời làm sao.

b.     Bài bình luận comments nói trên, dựa vào nền móng của kinh sách nào?

Em xin lỗi trước tới quí độc giả đã có hảo ý gởi lời comments này. Rất có thể quí độc giả vì bận rộn với cuộc sống đời thường, nên không rõ những tư tưởng này bắt nguồn từ đâu mà ra.

Kính thưa quí độc giả!

Cụm từ “Pháp Phật không tà, không chánh” ngoài việc bắt nguồn từ tập tục truyền thống văn hóa, xã hội của người Trung Quốc mà chúng ta đã trình bày ở trên; nó còn bắt nguồn ở những chủ thuyết của Phật giáo Trung Quốc khá phức tạp, mà có thể rất nhiều người không biết đến. Có hai tài liệu là nền móng cho tư tưởng này:

-         Đại Thừa Khởi Tín Luận
-         Kim Cang Định

Đây là sự tổng hợp khá hỗn độn của rất nhiều loại học thuyết Ấn Độ và Trung Quốc:

-         Tánh không
-         A lại gia thức
-         Thai tạng giới

Bản thể luận về con người vừa có chân tâm lại có vọng tâm, vừa có vô minh lại có giác tánh. Người ta cho rằng những tài liệu này xuất hiện vào khoảng thế kỷ thứ 6 hoặc thứ 7, tác giả không rõ là ai. Có học giả cho là có nguồn gốc ở Hàn Quốc.

Những tư tưởng này, chúng ta có thể tìm thấy ở những hệ phái gọi là Phật giáo của Trung Quốc sau đây:

-         Trường phái Thiên Thai
-         Trường phái Hoa Nghiêm
-         Trường phái Thiền Tông.

Do đó mới sanh ra những câu nói rất nổi tiếng, nhưng người ta e ngại là khó thực hiện trên thực tế:

-         Không tu tức là người thường, khởi lên một niệm tu hành là bằng pháp thân Phật.
-         Một niệm trước còn mê muội là người thường, một niệm sau giác ngộ tức thành Phật
-         V.v…

Theo quan điểm chủ quan của em, những câu nói trên nặng về lý thuyết, nặng tính chất động viên hơn là thực tế. Nếu chúng ta giả thuyết Sakya Muni là một người có thật, thì theo truyền thuyết, Ngài cũng phải tập luyện nhiều thập kỷ, thậm chí cho đến lúc chết. Phải chăng những thiền sư Trung Quốc là hậu sanh khả úy?


2.     Vấn đề xuất hồn, lại là một đề tài được người ta quan tâm tới ở thế kỷ này, có thể vì những lý do sau đây:

a.     Hệ thống thông tin liên lạc của thế kỷ 20, 21,.. đã làm cho trái đất thu nhỏ lại, con người ta gần gũi nhau hơn, các thông tin dễ dàng truy cập mà gần như chẳng tốn kém gì.

b.     Hai hiện tượng có lẽ đã có từ lâu là đầu thaicận tử, được người ta nhìn dưới góc cạnh khác. Hai hiện tượng này được người ta biết đến rất nhiều. Lúc trước vì không có các phương tiện thông tin, nên những sự hiểu biết rất giới hạn. Trên khắp thế giới, các hiện tượng đầu thai được kiểm chứng bằng sổ sách hộ tịch. Người chết rồi, có khi chết nhiều giờ đồng hồ, sau đó lại hồi sinh và kể lại giai đoạn cận tử… Có những nhà khoa học đã rơi vào tình trạng này. Nói tóm lại, ngoài những trường hợp giả hiệu, có những trường hợp tính xác thực rất cao, khoa học không thể giải thích được.


Chính vì lý do này, người ta cho là chết không phải là hết. Một người sống bình thường nếu có một kỹ thuật thích hợp nào đó thì rất có thể sẽ xuất được hồn ra khỏi cơ thể.

Kính thưa quí độc giả!

Từ ngữ xuất hồn ở đây được sử dụng nhằm mục đích làm cho mọi người dễ hiểu. Nếu có điều kiện chúng ta sẽ trình bày một chủ thuyết của một tác giả khá nổi danh thế giới, đó là tác giả Lobsang Rampa. Em thiết nghĩ tác giả này có lẽ không ai không biết. Ở đây chúng ta không đề cập đến tiểu sử tác giả, hoặc văn phòng của Đại Lạt Ma có công nhận hay không. Sở dĩ chúng ta tránh trình bày hai vấn đề trên vì em ngại là quí độc giả sẽ có mặc cảm tiêu cực với tác giả nói trên.

Không có gì bắt buộc một tác giả phải đạt được những tiêu chuẩn nào đó của xã hội đặt ra, mà chúng ta chỉ quan tâm tới chất lượng của chủ thuyết của tác giả.

SAO MAI says:

Chị HHN à!

Qua những gì chị trình bày em có thể hiểu rằng cái mà người ta gọi là thần thông, thật ra chỉ là sự phát hiện của trí tuệ con người về những quy luật khách quan của thế giới tự nhiên. Có lẽ trước khi coi thường nó, thì cũng nên hiểu được nó, nếu thực hiện được nó thì tốt quá! Khoa học hiện đại ngày hôm nay đã biến nhiều giấc mơ con người thành sự thật. Cụ thể như là những chiếc máy smartphone, những chiếc máy tính, hay những chiếc phi cơ bay trên bầu trời có thể trở được nhiều hành khách đi trong một khoảng cách không gian xa trong một thời gian ngắn. Nhưng em thiết nghĩ, người ta chỉ sử dụng nó mà có lẽ ít ai muốn học các lý thuyết về vật lý lượng tử. Em e ngại là, rất nhiều người sử dụng thành thạo những chiếc máy này, thậm chí lại chưa nghe tới bộ môn vật lý lượng tử bao giờ (Quantum physic). Rõ ràng là đến ngày hôm nay, có kể cả những vị đạo cao đức trọng trong các trường phái vẫn phải sử dụng đến thần thông thế gian là chiếc máy điện thoại di động, phi cơ, hay máy tính và còn nhiều máy móc phương tiện khoa học hiện đại khác!

Quay lại vấn đề, em biết có rất nhiều trường phái ngay ở tại Việt Nam, được gọi là trường phái xuất hồn. Câu chuyện xuất hồn nổi tiếng nhất mà có lẽ ai cũng biết là, “Cô Ba Cháo Gà Du Địa Ngục’. Với câu chuyện này, làm cho một người am tường về tâm lý học, sinh học… lập tức nghĩ ngay tới những từ ngữ kinh điển là: ảo giác, ảo ảnh, tự kỷ ám thị…

Đây chính là sự bắt đầu cho một vấn đề tạo ra khoảng cách sâu sắc. Nếu gọi là nền khoa học của Đông phương và Tây phương, em chỉ hiểu mơ hồ vấn đề này. Xin chị vui lòng giải thích.

HHN says:

Đúng vậy đó Sao Mai. Có lẽ không thể bảo là hố sâu, mà đúng hơn là vực thẳm tạo ra khoảng cách giữa khoa học của Đông phương và Tây phương. Rất có thể người Đông phương thì có thế học được, hiểu được khoa học của người Tây phương. Nhưng người Tây phương không thể hiểu và học được khoa học của người Đông phương.

Tại sao vậy?

Nền văn hóa của Tây phương dựa vào công cụ để quan sát thế giới khách quan là: các giác quan và luận lý hình thức.

Người Đông phương cũng có khả năng giống như người Tây phương. Nghĩa là họ cũng sử dụng các giác quan và luận lý hình thức của người Tây phương. Tuy nhiên, đây là điểm khác biệt, họ dùng phương thức là trầm tư mặc tưởng để tiến đến kỹ năng là thiền định. Trải qua nhiều ngàn năm, phương thức này giúp cho họ có một cái nhìn về thế giới khách quan khác hẳn với người Tây phương, mà người Tây phương không thể khái niệm được. Chúng ta cũng thấy có rất nhiều người Tây phương tu thiền định, nhưng dường như họ không có khái niệm gì về thiền định, bởi lẽ tư tưởng và lý trí là hai trở ngại lớn nhất đã làm rào cản không vượt qua được.

Trong những tài liệu về lý thuyết vật lý của người Tây phương  thì họ cũng đề cập đến rất nhiều loại không gian, nhưng nó vẫn tương thích với tư tưởng của luận lý hình thức và lý trí được gọi là lành mạnh của con người. Dù những tư tưởng có cách mạng và điên rồ đến mấy, vẫn nằm trong giới hạn của tư tưởng và lý trí lành mạnh.

Với người tu thiền định thực sự có những kết quả nhất định nào đó, thì người ta lại quan niệm về không gian - gọi một cách đơn giản và bình dân - là môi trường sinh hoạt. Một môi trường điển hình như chúng ta đang sinh hoạt chỉ có hình ảnh trong đầu óc của con người. Nó là một môi trường không có hình ảnh mà chỉ có tư tưởng. Điều quan trọng là chúng ta có thể hiện hữu ở trạng thái hình ảnh linh ảnh trong không gian này. Đối với người Tây phương, hay nói đúng hơn là với khoa học của người Tây phương, khi đề cập đến những loại môi trường này - môi trường hình ảnh, môi trường tư tưởng - thì người Tây phương cho là ảo giác, ảo ảnh, có thể là điên dại. Chúng ta không thể tìm thấy một chủ thuyết vật lý lý thuyết nào lại tương ứng với những không gian mà người tập thiền định đã biết đến.

Nói một cách khác, nếu căn cứ vào Vi Diệu Pháp, thì vật chất có hàng chục nguyên tố khác nhau; tâm lý có hàng trăm nguyên tố khác nhau, nghiệp lực …Con người không phải chỉ có một thân xác như chúng ta đang có ngày hôm nay. Chúng ta có thể hiện hữu ờ nhiều dạng thực thể có những cấu tạo tâmsắc  không thể đếm được . Nếu căn cứ vào chủ thuyết của Vi Diệu Pháp, thì việc xuất hồn chỉ là một vấn đề vận dụng hiểu biết các hiện tượng khách quan để thực hiện một hiện tượng vô cùng đơn giản của thế giới tự nhiên. Ngay cả đứng trên quan điểm của trường phái Phật giáo nguyên thủy, thì đây cũng là một cách tập luyện khó khăn. Nếu không lầm, chính bản thân của ngài Sakya Muni cũng đã triển khai thao tác này khi bỏ lại thân xác vật lý ở thế gian. Do đó, ai đó cho mình là tín đồ của trường phái Phật giáo, thì hiệu ứng xuất hồn cũng không phải là một điều cấm kỵ (tabou) .


SAO MAI says:

Em hy vọng sẽ được gặp lại chị để nghe chị trình bày về việc xuất hồn của một tác giả khác. Vâng, em nhớ không lầm thì tác giả này trình bày rất nhiều chương trong tài liệu “You - Forever” về vấn đề xuất hồn .

Trân trọng kính chào toàn thể quí độc giả!