Wednesday, September 3, 2014



    Kính thưa quý vị độc giả!

     Cảm ơn quý vị đã chia sẻ  kinh nghiệm tu tập cùng nhóm HHN để chúng ta có cơ hội cùng nhau học hỏi và  trao đổi kinh nghiệm!

    Anh Phạm M.T thân mến!

     Sắp tới chúng em sẽ đưa ra một bài viết trao đổi cùng anh và cùng nhiều quý độc giả thân thương khác những kinh nghiệm khác nhau thường xảy ra trong quá trình tu tập. Trên tinh thần cảm ơn và  tôn trọng quý vị độc giả, nên chúng em cần phải có một thời gian để trình bày  một cách đầy đủ và chi tiết nhất trong khả năng của mình để chúng ta cùng trao đổi và học hỏi lẫn nhau.

     Bản thân em là một admin của trang blog: thiendinh-hhn.blogspot.com - cũng gặp những hiệu ứng khác nhau xảy ra trong quá trình tu tập. Và gần đây nhất là một câu chuyện  xảy ra đối với em. Tuy nhiên, để nói sâu và chi tiết hơn về những hiệu ứng tích cực và  tiêu cực xảy ra trong quá trình tu thiền định, nhóm HHN có bài viết nói về những vấn đề này sau. Và em xin chia sẻ lại những hiệu ứng mà em gặp phải như sau:

     Đêm ngày 31 tháng 8, em mơ ngủ thấy mình là một trong những đệ tử của một vị Sư phụ. Vị Sư phụ này là một ni sư. Lúc đó, em đến thăm phòng của Sư phụ và khi rời khỏi phòng vị Sư phụ này để  quay trở về thì được một ni cô khác gọi em lại bảo:

-   Sư phụ cho gọi chị lên phòng gặp Sư phụ. 

Em nghĩ bụng: "Mình lại được Sư phụ quan tâm, ưu ái gì đây?". Em vừa phân vân như vậy vừa đi tới chỗ của bà Sư phụ. Bà đang ở trong một cái màn được làm bằng vải xô màn, loại màn ngày nhỏ em mới nhìn thấy. Hoặc có thể bây giờ vẫn có thể nhìn thấy ở những miền quê. 

     Em nghĩ là Sư phụ đang mệt, nên chui vào màn xem bà cần gì, và em sẵn sàng xoa bóp cho bà nếu cơ thể bà nhức mỏi. Khi em chui vào trong màn cùng Sư phụ thì em thấy đầu bà đội một cái khăn, bà kéo khăn cao lên hẳn đỉnh đầu thì em nhìn thấy da mặt bà nhăn nheo, trông già đến hơn hai trăm tuổi. Em thấy Sư phụ vuốt ve vào cơ thể của em. Em có cảm giác là người đàn bà này bị “ái nam, ái nữ”. Em nhớ lại rằng mình đã được nghe câu chuyện người ta tu hành bằng cách sinh hoạt tình dục ở đâu đó. (Hình như là ở bên Tây Tạng). Và em nghĩ rằng bà đang tu hành bằng cách vuốt ve vào cơ thể của mình. Rồi bà bắt đầu đặt bàn tay lên đỉnh đầu của em. Em chưa hiểu gì, nhưng vẫn để im như vậy và theo dõi những động tác của bà. Rồi sau đó, bà đưa ngón tay của bà vào huyệt Ấn đường (huyệt Ajina hay còn gọi là luân sa số 6) ở trước trán của em. 

    Thưa quý vị!

    Trong cuộc sống tu tập thường ngày, có những lúc đang thực hành công phu, em cảm thầy có những hào quang màu vàng sáng và những tia sáng hào quang xung quanh một khoảng tròn vàng sáng giống như tia nắng mặt trời trước trán của mình (Tất nhiên vòng tròn sáng và những tia sáng này có màu đậm hơn màu nắng). Đây là cảm giác của em như  thấy được, hoặc nhớ lại được điều này  trong khoảng 1 giây, nhưng đây không phải là sự thấy biết thực sự của em. Và em thường được nghe người anh cả của nhóm HHN và các sư Thầy bảo em rằng nếu trong quá trình tu hành mà thấy những cảnh này hay cảnh khác thì cũng mặc kệ, đừng tham đắm vào nó, kẻo rồi gặp ma cảnh. 

    Kính thưa quý vị độc giả cùng các anh chị!

    Quay trở lại với giấc mơ của mình, lúc này em chợt nhận  biết ra rằng bà làm những động tác như vậy là muốn hút tinh khí từ người em sang người bà. Em chợt vội nói: 

-  Sư phụ, Sư phụ!

Câu nói của em với người "Sư Phụ" này nhằm ngụ ý rằng: Sư phụ đừng làm thế!

    Rồi em vội vàng chui ra khỏi giường của bà,  xỏ chân vào dép và chạy ra khỏi chỗ đó. Em chạy qua một ni sư đang ở trong khu phòng đó và chạy vọt ra ngoài, hướng ra phía  ngoài đường. 

    Rồi em chợt nghĩ: "Bà Sư phụ này đang muốn hút tinh khí của mình sang người bà, và da mặt bà nhăn nheo như vậy, thì chắc người bà đang mệt mỏi lắm!” 

    Em chợt nhớ tới việc một vị cư sĩ tại gia đang chữa bệnh đau lưng cho em bằng cách truyền năng lượng từ xa  theo dạng Siêu năng lượng nhân điện. Em nghĩ em sẽ giúp "bà Sư phụ" này bằng cách nhờ anh cư sĩ tại gia này giúp cho bà theo phương pháp truyền năng lượng. Em quay trở lại căn phòng của bà Sư phụ đó, nhưng lần này em lại bị lạc mất đường, không nhìn thấy căn phòng của bà đâu nữa. Em đang loay hoay nhìn lại hướng đi để trở về căn phòng của bà đó thì thấy hai đứa trẻ nhỏ đang chơi với nhau, rồi bất chợt người em bay lên cao. Em thấy mình có khả năng bay bổng lên khỏi mặt đất, khác hẳn những người thường. Em rất vui vì mình có thể bay bổng như vậy. 

    Bất chợt, có tiếng động đâu đó bên ngoài làm em tỉnh giấc. Và em biết rằng mình vừa trải qua một giấc mơ.

    Kính thưa quý vị độc giả! Thưa các anh chị!

    Trong quá trình thực hành công phu tu tập của chúng ta, để đi đến một thành quả nhất đinh nào đó, ít nhiều chúng ta  cũng gặp những cảnh này, cảnh khác trên con đường chúng ta đi. Và những điều chúng ta thấy, biết trong quá trình công phu (khi đang tỉnh thức), cũng như trong giấc mơ, nó đã phản ánh lại những hiệu ứng tích cực hay tiêu cực trong thời gian tu tập của chúng ta. Tất cả những điều này đều phụ thuộc vào tâm của chúng ta.

    Xin hẹn gặp lại quý vị độc giả và các anh chị trong những bài viết sau!

    Chúc quý vị những ngày mới vui vẻ, hạnh phúc và an lạc!

HHN


Sunday, August 31, 2014



Kính thưa quý vị độc giả!

Cảm ơn quý vị độc giả trong thời gian qua đã dành nhiều thời gian  cho những bài viết của: Thiendinh-hhn.blogspot.com!

Có một quý độc giả tên là Phạm M.T (vì nhóm HHN chưa hỏi ý kiến của anh, nên chỉ xin viết tắt tên của độc giả) đã viết thư cho nhóm HHN và trao đổi với nội dung như sau:

Mình có thiền một thời gian,  mình thấy một hình ảnh rất kỳ lạ! Mình vẽ lại, đưa lên mạng cho người ta coi. Người ta bảo thấy ký hiệu này không được thiền nữa.  Không biết mình đã thiền sai cái gì, mong bạn giúp đỡ! 

 Và đây là hình ảnh mà anh Phạm M. T đã vẽ lại và gửi cho nhóm HHN:





Anh Phạm M.T thân mến!

Nhóm HHN đã có những câu trả lời cho anh. Và chủ đề này của anh sẽ được trả lời trong những bài viết tiếp theo của thiendinh-hhn.blogspot.com.

Xin cảm ơn anh! Và chúc anh tinh tấn tu tập với niềm vui, sự hạnh phúc và an lạc!

Hẹn gặp lại anh ở những bài viết sau.

HHN

Saturday, August 30, 2014



Thiền Định có lẽ là hạ tầng cơ sở thực nghiệm
             của 6 Trường Phái Ấn Độ UPANISAD.


Truyền Thống Phật Giáo mà mất đi Thiền Định đồng nghĩa với việc mất đi Linh Hồn, mất đi Sức Sống.

Đoàn bảo tiêu Xuyên Vân Kiếm Pháp ra khỏi bìa rừng và tiến vào một thị trấn nhỏ. Không khí nhộn nhịp hẳn lên với dãy hàng quán buôn bán ven đường. Trái với thói quen thường ngày là hay cười nói, Tam Tiểu Thư đi một cách lầm lũi im lặng bên cạnh ông Tổng Quản.

Tam Tiểu Thư:

Ông Tổng Quản à! Tôi đang suy nghĩ đây ông. Như ông biết đấy, nếu tính theo cuộc sống ngoài đời thì tôi cũng hơi bị được nha ông. Văn võ song toàn, đâu có thua ai, có khi còn hơn người là đằng khác. Tuy nhiên khi lao vô Con Mắt Thứ Ba này, tôi thấy nhiều thứ khó nói quá!

Ông Tổng Quản:

Có gì thì cô cứ nói, có gì đâu mà nói không được? Cô yên tâm, tôi có cuốn Tạp Thư đa năng, đa hiệu. Khó cách mấy cũng có câu trả lời, thậm chí còn hơn cả Google nữa.

Tam Tiểu Thư:

Việc tập Thiền Định để mở Đệ Tam Nhãn, tôi thấy mình có lẽ … hơi bị đuối rồi. Tôi thấy nó khó quá, có cái gì đó không ổn! Cảm giác của tôi là hình như tôi thiếu căn bản về Thiền Định. Nó giống như việc học tắt. Hiểu thì tôi có thể hiểu được một phần nào đó, nhưng lúc thực hành thì không làm được. Đơn giản là tôi thiếu căn bản, thiếu những kiến thức cần thiết tối thiểu cho một người hành Thiền.

Ông Tổng Quản:

Cô nói không sai, phải không quý độc giả? Ðể minh họa, chúng ta có thể so sánh việc mở Đệ Tam Nhãn với việc đi học văn hóa tại nhà trường. Học Tiểu học và Trung học tương đương với việc học Lý thuyết Kỹ thuật thực hành Thiền Định. Học Cử Nhân là khái niệm về Đệ Tam Nhãn. Tiến sĩ Đệ Tam Cấp là học Cách Mở Nhãn. Tiến sĩ Quốc Gia là hoàn thiện việc Mở Nhãn và phân biệt các loại Nhãn khác nhau. Cuốn Tạp Thư nó so sánh như vậy đó. Nếu Cô không chê lối so sánh nói trên là “Ðầu Ngô mình Sở”, thì tôi có một cách để Cô dễ tiếp thu không cảm thấy khó quá.

Tam Tiểu Thư:

Vậy thì ông thử nói cách của ông đi. Nó là thế nào?

Ông Tổng Quản:

À! Cách của tôi đơn giản thôi! Cô học việc mở Đệ Tam Nhãn chậm lại, từ từ thôi … Song song với chuyện đó, cô học bổ túc về Thiền Định, đại khái giống như người ta bổ túc văn hóa, để nâng cấp hiểu biết về Lý Thuyết và Kỹ Thuật Thiền Định … Khi nào hai bộ môn này gặp nhau, ý tôi nói là Mở Nhãn và Thiền Định gặp nhau, thì lúc đó cô lại tiếp tục tập luyện cách mở Đệ Tam Nhãn một cách bình thường.

Tam Tiểu Thư:

Ok! … Ông có lý đó. Ông thật là người dễ thương nhất trên đời đó. Lúc nào cũng tìm ra cách gỡ rối cho tôi mỗi khi tôi gặp khó khăn. Nếu chuyện mà cứ như thế này, thì ông phải ráng sống lâu hơn tôi nhé. Ông phải ở cạnh tôi cả đời cho đến khi tôi chết. Lâu nay tôi lúng túng không biết xử lý ra sao. Ban đầu tôi chán nghe những lý thuyết dài dòng của ông lắm. Nhưng càng lúc tôi càng hiểu ra là muốn mở được Đệ Tam Nhãn phải có căn bản vững chắc về Thiền Định. Cả lý thuyết cũng như thực hành. Thiếu bộ môn này, mình không thể tiến lên được. Đó là một cuộc chạy đua mà tôi cầm chắc phần thua trong tay, do đôi chân bị khập khiễng.

Ông Tổng Quản:

Ðiều Cô vừa nói rất hay và cần thiết. Vì chính Cô phải hiểu được như vậy thì cô mới thấy giá trị và ý nghĩa của việc học tập và thực hành Thiền Định. Những gì hôm nay cô mới phát hiện ra, nó đã từng xảy ra cách đây nhiều ngàn năm, từ 2.500 năm đến 4.000 năm về trước. Theo cuốn Tạp Thư, thì dường như tất cả các Trường Phái lớn sau thời gian Upanisad, đều xây dựng trên cơ sở thực nghiệm là Thiền Định. Thí dụ như: Yoga, Phật Giáo, Số luận …

Tam Tiểu Thư:

Tôi thì rất có cảm tình với Phật Giáo. Ông nói một chút về Thiền Định Phật Giáo đi ông.

Ông Tổng Quản:

Tam Tiểu Thư cũng như quý độc giả đều biết rất rõ tiến trình xây dựng nên Trường Phái Phật Giáo. Ðể minh họa bức tranh cho thêm phần rõ nét, xin phép được nhắc lại những điều mà Tam Tiểu Thư cũng như quý độc giả đều biết. Sakya Muni là một con người bình thường, như bạn và tôi.

Ngài đã quan sát các hiện tượng tự nhiên khách quan:

Sanh > Lão > Bệnh > Tử. Từ những quan sát này, Ngài tìm ra mối quan hệ của các hiện tượng tự nhiên và sau đó phát biểu thành định luật. Như thế chưa đủ, Ngài còn sử dụng một công cụ phổ thông lúc bấy giờ là Thiền Định để tìm hiểu sự thật về bản chất của vạn vật. Chính nhờ Thiền Định, Sakya Muni đã phát minh ra phát biểu để đời bất tử:

"Vô Thường, Vô Ngã, Khổ Não". Có Trường Phái khác ghi lại là: 
"Vô Thường, Hữu Ngã, Khổ Não". Những hiểu biết về cấu tạo Tâm Sắc của các Thực Thể; diễn tiến của Luồng Tâm Thức; các Cảnh giới … vẫn mang tính chất nhất quán. Dù chúng ta có nghĩ đây là một huyền thoại, nhưng rõ ràng là Trường Phái Phật Giáo đã được xây dựng trên kinh nghiệm thực tế, hoàn toàn không xây dựng trên kinh nghiệm lý thuyết.

Thiền Định có thể bắt nguồn ở rất nhiều nơi trên thế giới. Nhưng Thiền Định tại Ấn Ðộ và sau này tại Tây Tạng, vẫn được lưu truyền đến ngày hôm nay và lan rộng trên toàn thế giới. Người Ấn Ðộ dường như có truyền thống Trầm Tư, Mặc Tưởng. Có nhiều tác giả cho rằng đó là bản tính vốn có, tập quán tự nhiên của người Ấn Ðộ. Như mọi người đều biết, lịch sử Ấn Ðộ không được ghi lại bằng chữ viết. Chính điều này làm cho việc khảo cứu cực kỳ khó khăn. Người ta tạm chấp nhận việc tu tập tại Ấn Ðộ có thể chia ra làm 3 thời kỳ:

1. Giai đoạn Veda có nghĩa là Minh Trí (Có 4 loại Veda):

    Rigveda / Yajarveda / Samaveda / Atharaveda.

2
. Giai đoạn Branmana:

Chính ở giai đoạn này đạo Bà La Môn ra đời. Người ta được biết đến chủ nghĩa "Veda Thiên Khải", "Tế Tự Vạn Năng", "Bà La Môn Chí Thượng". Ở cuối tài liệu Branmana có phần Aranyakah để đọc tụng và trầm tư, mặc tưởng mới hiểu được. Tu sĩ phải vào trong rừng tìm nơi vắng vẻ, thanh tịnh để đọc tụng và trầm tư. Người ta cho là, bộ môn Thiền Định đã ra đời tại Ấn Ðộ nói riêng, và của loài người nói chung.

3. Giai đoạn Upanisad:

Có rất nhiều tài liệu Upanisad. Ít nhất cũng là 200 bản, khác hẳn nhau, chống đối nhau. Do đó việc khảo cứu vô cùng khó khăn. Nhưng cũng chính tại giai đoạn này, bộ môn Thiền Định đã thực sự hình thành mặc dù chưa rõ nét. Vẫn dựa trên tư tưởng cơ bản của Kinh Veda, 6 Trường Phái điển hình của Ấn Ðộ ra đời:

   a. Phái Mimansa Tổ: Jaimini.
   b. Phái Vadanta Tổ: Badarayana.
   c. Phái Nyaya Tổ: Gautama (Phái chính luận).
   d. Phái Vaisesika Tổ: Kanada (Phái thắng luận).
   e. Phái Samknya Tổ: Kapila (Phái số luận).
   f. Phái Yoga Tổ: Patanjali (Phái Du già).
 


Tuy bắt nguồn từ Veda, nhưng những Trường Phái kể trên dần dần tự hình thành hệ thống tư tưởng riêng của mình. Tuy nhiên, các Trường Phái nói chung vẫn dựa trên thực nghiệm Thiền Định. Chính vì lý do này, bộ môn Thiền Định do phải cạnh tranh nhau, đã sản sinh ra những Kỹ Thuật cùng những Lý Thuyết ngày một tinh vi hơn. Chúng ta có thể tìm thấy hệ quả này của Kỹ Thuật Thiền Định Phật Giáo và Raja Yoga. 

Tam Tiểu Thư:

Sao nãy giờ nghe Ông nói về Thiền Định mà không nghe Ông đề cập đến Trung Quốc vậy. Hồi đó Thầy của tôi khuyên tôi nên học Hán văn để đọc sách dạy Thiền của Trung Quốc đó.

Ông Tổng Quản:

Xã hội Trung Quốc có những phong tục tập quán mang màu sắc đặc thù của Trung Quốc là: Tu thân, Tề gia, Trị quốc, Bình thiên hạ … Tiến trình phấn đấu của đời người theo cách này cho thấy một Nhân Sinh Quan mang nặng chủ nghĩa hướng ngoại, với mục đích dường như quá tham vọng. Nói một cách bình dân là nếu ai cũng muốn làm Vương, làm Tướng; coi chuyện này là mục đích của đời người, thì lấy ai làm Dân, lấy ai làm Lính. Người ta có thể quan ngại rằng, với mục đích của loại Nhân Sinh Quan này, thì ở góc cạnh tích cực, nó làm cho con người hun đúc ý chí cạnh tranh, và làm cho xã hội tiến bộ. Nhưng mặt khác thì có lẽ rất dễ gây ra chiến tranh. Cô có thấy phim ảnh của Trung Quốc luôn luôn nói tới chủ nghĩa “Ðạt được mục đích, bất chấp thủ đoạn” không? Thật vậy, tinh thần nói trên cùng với phong tục tập quán của người Trung Quốc, đã được thể hiện qua cái được gọi Trường Phái Phật Giáo Trung Quốc. Có thể kể những thí dụ như: Tức Sắc Tông, Thiền Ðốn Ngộ … Việc này chúng ta sẽ còn có cơ hội quay lại tìm hiểu sau. 

Lúc bấy giờ xã hội Ấn Ðộ là vào thời Upanisad lại có một phong tục tập quán khác hẳn với truyền thống của Trung Quốc. Đó là một Nhân Sinh Quan hướng nội, một Vũ Trụ Quan tìm cách sát nhập với Đấng vĩnh hằng. Ðời người Ấn độ chia ra làm 4 giai đoạn: Khi còn thơ ấu thì sống trong gia đình với cha mẹ. Ðến thời thiếu niên thì theo học tại các Cơ sở Tôn giáo. Lúc trưởng thành thì lập gia đình. Sau khi hoàn tất nghĩa vụ với xã hội, họ vào rừng tu Thiền Định, tìm nơi vắng vẻ tu hành cho đến chết.

Hai Trường Phái của Ấn Ðộ còn lưu truyền đến ngày hôm nay là Phật Giáo và Yoga. Cả hai Trường Phái này, như quý vị đều biết - một phần là dựa trên cơ sở của kinh Veda; nhưng phần quan trọng nhất  lại dựa trên cơ sở là những kết quả thực tiễn, mà họ đã thu hoạch được bằng Kỹ Thuật Thiền Định.

Kinh Yoga gồm có 4 phần cơ bản:

1. Tam Muội phẩm (Thiền Định) (Samadhi-pàda):
Phân loại và giải thích bản chất của Tam-Muội.
2. Phương pháp phẩm (Samdhana-pàda):
Thuyết minh phương pháp tu tập Thiền Định.
3. Thần thông phẩm (Vibhiti-pàda):
Trình bày các chủng loại và nguyên lý của thần thông.
4. Ðộc tồn phẩm (Karralya-pàda):
Thuyết minh cách tiêu trừ sự trói buộc của Thần Ngã.

Tư tưởng cơ bản của tài liệu này là làm sao để tư tưởng đứng lại, gọi là "Chỉ", là "Ðịnh Tâm". Cuối cùng là sự sát nhập, hợp nhất với Vị Thần tối cao.

Ðể thực hiện việc tu hành, tu sĩ phải đi qua 8 bước cơ bản:

1. Tịnh giới: gồm có: Không sát sinh, không vọng tưởng, không trộm cắp, không tà dâm, không tham lam.
2. Dự bị tu tập: Tịnh thân, tịnh tâm, khổ hạnh.
3. Luyện tập các vị thế để tu Thiền Định: Tập các vị thế đặc biệt.
4. Tập luyện hô hấp: Tập luyện hơi thở.
5. Làm chủ các giác quan: Thực tế là bế lục căn như Phật Giáo.
6. Chú tâm vào một đối tượng duy nhất.
7. Liên tục chú tâm vào một đối tượng duy nhất.
8. Nhập định.

Nhìn bức tranh nói chung kể trên, thì các trường phái như: Số luận, Phật giáo, Yoga … đều dựa vào kết quả của thực nghiệm Thiền Định.

Do đó, Phật Giáo dù là Tiểu Thừa hay Ðại Thừa, nếu mất đi hoặc thiếu vắng bộ môn Thiền Định - là chỗ dựa vững chắc, thì Phật Giáo đã mất đi luồng sinh khí của mình.

Tam Tiểu Thư:

Tôi thấy có rất nhiều Cơ sở Tôn giáo của Phật Giáo, mà họ có tu Thiền Định bao giờ đâu (hay là ít nhất theo tôi được biết, thì họ không hề tu Thiền Định). Tôi thường thấy họ làm các thủ tục tế lễ, nghi lễ cúng bái … thậm chí còn mang tượng Phật ra để tắm nữa đó.

Ông Tổng Quản:

Như cô thấy đó, rất nhiều Trường Phái Phật Giáo của Việt Nam ngày hôm nay đã xuất phát từ Phật Giáo của Trung Quốc. Sự thực những Trường Phái này là do người Trung Quốc sáng tác ra. Lấy thí dụ như: 

* Tịnh Ðộ Tông: Trường Phái này còn có tên là Liên Tông. Họ chủ trương Niệm Phật để khi chết sẽ về "Tịnh Thổ". Tuệ Viễn là người đã sáng lập ra Trường Phái này vào đời Ðường. Tuệ Viễn tập họp được một số người và thành lập ra một tổ chức Tôn Giáo. Họ chủ trương thực hành Niệm Phật Tam-Muội có nghĩa là Trì Danh Niệm Phật. Lúc đầu, còn có người chủ trương Thiền Tịnh Song Tu. Nhưng sau này, không còn ai nhắc tới nữa, có lẽ chuyện Song Tu chỉ còn là một kỷ niệm của dĩ vãng.

Tịnh độ có 3 bộ Kinh: A Di Ðà Kinh / Vô Lượng Thọ Kinh / Quán Vô Lượng Thọ Kinh.

1 bộ Luận: Vãng Sinh Luận.

Tịnh Ðộ Tông được phát minh ra tại Trung Quốc vào thế kỷ thứ 4, du nhập vào Việt Nam thế kỷ thứ 6.


* Trường Phái Tức Sắc Tông: Đây cũng là một Trường Phái Phật Giáo của Trung Quốc. Học phái này cho rằng: "Tính của sắc là không tự có sắc. Sắc không tự có nên tuy có Sắc mà là Không, cho nên bảo Sắc tức là Không, Sắc lại khác Không". Người Việt Nam nói chung, không kể là Phật Tử, dường như ai cũng biết vài câu kinh Bát Nhã: "Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc". Đây chính xác là câu kinh của Không Tông Bát Nhã.

* Thiền Tông Trung Quốc:
Trường Phái này đề xướng pháp môn "Ðốn Ngộ", có nghĩa là Giác Ngộ ngay tức thì, với chủ trương "Truyền giáo pháp ngoài kinh điển, không có văn tự chữ nghĩa, trực tiếp vào Tâm con người, kiến Tánh thành Phật".

Ðốn Ngộ thành Phật là tư tưởng căn bản của Thiền Tông Đàn Kinh. "Không tu tức là người thường, khởi lên một Niệm Tu là bằng Pháp Thân Phật". Câu nói nổi tiếng mà chắc ai cũng biết:"Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm", bỏ tất cả các hình tướng bên ngoài.

* Thiên Thai Tông: Pháp môn này dựa trên tài liệu rất phổ thông tại Việt Nam gọi là kinh Pháp Hoa.

Còn rất nhiều Trường Phái khác của Trung Quốc mà trong khuôn khổ nhỏ bé của tài liệu này, chúng ta không thể kể hết được. Nhưng bất cứ ai cũng có thể đưa ra nhận xét như sau: dường như Phật Giáo ở Việt Nam là một "Melting Pot". Nó pha trộn quá nhiều luồng tư tưởng của các Trường Phái Trung Quốc, đến nỗi một người tu tập bình thường không còn biết mình thuộc về Trường Phái nào. Cái khó khăn cho người tu Thiền Định là không biết chọn con đường nào để đi. Thật vậy, các tài liệu pha trộn quá nhiều, nên không biết đâu là sự thật. Có Trường Phái thì dùng gậy gộc để đánh đệ tử, có Trường Phái thì lầm lì chẳng nói gì. Nhưng ai cũng cho là mình đúng. Do đó, một người bình thường bước vào con đường Tu Đạo, bối rối chẳng biết hướng nào mà đi. Đó chỉ là những điều nói riêng của Trường Phái Phật Giáo. Thực tế, nếu chúng ta gặp ai đó mặc bộ quần áo của người Tu. Nếu được hỏi về Phật giáo và phương pháp tu hành, họ có thể trả lời theo rất nhiều cách khác nhau; lấy cơ sở là dựa trên các tài liệu gọi là Kinh sách mà người ta cho là chính quy.

Như phần đầu chúng ta đã biết, những Trường Phái lớn tại Ấn Ðộ đều xuất phát từ cơ sở là kinh nghiệm thực tế, có được do kết quả của Thiền Định. Do đó, dù cách trình bày có khác nhau, nhưng Kỹ Thuật Thiền Định, về cơ bản rất giống nhau. Trái lại, căn cứ vào các tài liệu, thì các Trường Phái tại Trung Quốc lại vô cùng đa dạng và mang màu sắc đặc trưng của Trung Quốc. Dường như nó xuất phát từ những cuộc tranh luận, từ những lý thuyết, có lẽ không quá đáng nếu gọi là “không tưởng”. Nói đúng hơn là, không thể thực hiện được trên thực tế. Bất cứ ai từng tu Thiền Định cả đời mình, thì sẽ phân vân không biết mình mơ hay tỉnh, hay là mình căn cơ quá đần độn khi đọc câu "Tiền Niệm Mê tức Phàm, hậu Niệm Ngộ tức Phật". Thật vậy, ai cũng cảm thấy đau lòng khi thấy rằng mình bỏ cả một cuộc đời ra để Tu, mà chẳng Nhập Định được, chẳng biết mùi vị của Thiền Định là gì. Làm sao dám nghĩ tới chuyện thành Phật? Mà nay chỉ một giây trước là Phàm, và một giây sau lại thành Phật.

Những tư tưởng tương tự như những lời phát biểu nói trên, được người ta lập đi lập lại khắp nơi với đầy vẻ kỳ bí và hứng thú. Phải chăng đây là Chân Lý hay là Ngụy Chân Lý? Thực tế, Đệ Tam Nhãn cũng như một số khả năng khác là hệ quả của Thiền Định. Nhưng ít nhất đến ngày hôm nay, chúng ta không được biết một vị nào, tập luyện theo các Trường Phái nói trên, lại đạt được những khả năng khác thường. Ngược lại, những tu sĩ vô danh, nghèo nàn, sống độc cư và thường không tiếp xúc với ai cả ở Tây Tạng, thì lại được người ta biết đến với những khả năng khác thường. Họ cũng tu Thiền Định, sử dụng Đàn Pháp làm Đối Tượng để Quán Tưởng. Họ không có những phát biểu lớn lao, nhưng người ta phải tìm tới vì những khả năng khác thường không thể phủ nhận được. Ngay cả các phòng khoa học để khảo cứu về khả năng của con người, họ cũng hay mời các tu sĩ Ấn Ðộ, các Lạt Ma Tây Tạng tới để trao đổi và tìm hiểu. Những vị này họ thường tịnh khẩu.

Tam Tiểu Thư:


Tôi đã hiểu những điều ông nói. Ông đã vẽ cho tôi một bức tranh tổng quát về việc tu Thiền Định từ Cổ chí Kim, trên khắp thế giới. Cái quan trọng nhất là ông phải giúp tôi chọn Trường Phái nào mang tính chất thực tế và hữu hiệu. Thí dụ như: Trường Phái của các Lạt Ma Tây Tạng, các tu sĩ Ấn Ðộ …

Trong kỳ tới, mong ông sẽ bày cho tôi cách tập luyện thực tế. Có lẽ tôi chọn lối tu Thiền Định của Thiền Định Tiểu Thừa Phật Giáo. Nó chậm nhưng chắc ăn, ai cũng làm được, dễ thành công, đơn giản. Chính bản thân Ngài Sakya Muni thuở xưa cũng sử dụng phương pháp này mà đã giác ngộ thành Phật. Nếu tôi nương theo phương pháp của Sakya Muni, của các Lạt Ma Tây Tạng, biết đâu cũng có ngày thành Phật! không còn phải làm bảo tiêu nữa. Ông Tổng Quản làm ơn xem trong Tạp Thư đi, coi tôi có số tu chứng đắc không ông nhé …

(còn tiếp)


Friday, August 22, 2014


Giả thuyết về Đệ Tam Nhãn của Định Dục Giới



Trời đã tối, càng về khuya càng lạnh. Trăng đã lên quá đỉnh đầu. Ngàn sao lấp lánh. Dưới ánh nến lung linh trong góc một Trà Quán bên đường, Tam Tiểu Thư và Ông Tổng Quản đang say sưa “Đàm Đạo” ...

Tam Tiểu Thư:

Tôi từ nhỏ đã sống với ông. Ông nói gì tôi cũng tin và chẳng biết từ bao giờ chuyện tin ông đã thành thói quen của tôi rồi.

Khi ông bảo tôi tập Thiền Định để mở Đệ Tam Nhãn, tôi cũng làm theo ngay. Ông từng nói rằng nếu mình mở được Đệ Tam Nhãn, thì mình sẽ có những kiến thức và sự hiểu biết mà người ta thường gọi là Xuất thế gian; biết được quá khứ, vị lai. Thậm chí, hiểu biết được Con Người; biết được những Cảnh giới mà mình chưa hề đi đến bao giờ. Nói đúng hơn, là biết về những nơi mà con người bình thường không có cách gì để biết được hoặc đi đến được. Thật vậy, dù có được cấp hộ chiếu để đi đến cảnh Định Dục Giới thì cũng chẳng biết mua vé máy bay ở đâu và thực sự không bao giờ có chuyến bay nào đi được đến đó. Thật là thú vị nếu mình ngồi yên tại chỗ, nhắm mắt lại mà có thể du lịch khắp nơi, khắp chốn; lại còn đến được cả những nơi người bình thường không đến được nữa chứ. Tôi tò mò về tam giác Bermuda. Ông có biết tam giác Bermuda không? Tôi nghe nói ở tam giác này có những chiều không gian lạ. Nếu thật vậy thì người bình thường nào mà dám đi vào khu vực này. Có những phi công đã từng kể, máy bay của họ chỉ có khả năng bay tối đa là 350 km/giờ. Thế rồi bỗng nhiên họ lọt vào vòng xoáy. Họ đã đến một nơi mà nếu tính theo thời gian, thì máy bay của họ đã vượt qua vận tốc 3.000km/giờ. Ðể giải thích hiện tượng này, có người đã cho rằng chiếc máy bay nói trên đã chuyển qua một chiều không gian khác. Ông cũng hay nói các chiều Không gian của Thiền Định. Nó giống vậy không ông?

Bộ môn Sinh lý học của Y khoa nói rằng: Khi đứng trước các cảnh tượng bất ngờ gây mất tinh thần, sợ hãi, hoảng hốt … thì cơ thể con người sẽ tiết ra hóa chất Noradrenalin. Hóa chất này làm cho con người trở nên hung bạo hơn, liều lĩnh hơn, phiêu lưu hơn, can đảm hơn. Do đó, có người cho rằng hóa chất này cũng được tiết ra trong cơ thể của những người tu Thiền Định đó ông.

Ông Tổng Quản:

Trước nhất, cám ơn Cô đã tin vào tôi, chịu khó thực hành Thiền Định để đưa đến việc mở Đệ Tam Nhãn.

Những nghi vấn mà cô nêu ra ở trên rất là hợp lý. Nếu nói như cô, thì những ai hiểu biết về Sinh lý học, Vật lý học sẽ dễ dàng mở Con Mắt Thứ Ba. Nhưng trên thực tế, thì rõ ràng rằng không phải những người Tu Thiền Định thành công đều là những nhà Vật lý, Sinh học … Mà cho dù họ đúng là các nhà Vật lý hay Sinh học và chịu khó tu Thiền Định, thì cũng chưa chắc gì mở được Đệ Tam Nhãn. Lịch sử của Đệ Tam Nhãn đâu có ghi tên nhà Vật lý hay Sinh học nào đâu. Dường như việc mở Đệ Tam Nhãn, đòi hỏi rất nhiều yếu tố ngoài chuyện hóa chất như cô mới đề cập.

Tam Tiểu Thư:

Gì mà rắc rối vậy chứ? Ông nói thế thì đúng là bó tay. Ông không biết làm sao, mà lại đi bày cho tôi để mở Đệ Tam Nhãn, làm cho cuộc đời thêm mỏi mệt, thêm phức tạp. Đúng là “Lợi bất cập hại”. Thời gian đó, thay vì để cho tôi xem ti vi còn sướng hơn. Tôi thích xem chương trình Bước Nhảy Hoàn Vũ, Sao Mai Ðiểm Hẹn, nhất là Việt Nam Idol đó ông. Ngoài ra còn nhiều thú vui khác nữa. Nghe lời ông, bây giờ lại ngồi một mình ở trong phòng, bế lục căn, nhắm mắt, ngồi bất động tu thiền định … tôi thấy vô ích quá, tiêu phí cả một tuổi thanh xuân, ông thấy tôi nói có đúng không? Người ta nói đời là bể khổ, nhưng riêng tôi thì thấy đời có nhiều niềm vui mà ...

Ông Tổng Quản (cười dịu dàng):

Tam Tiểu Thư, cô hãy bình tĩnh nhé. Đã sanh ra trong kiếp người, thì cuộc đời mấy ai tránh khỏi tật bệnh, chết, già nua, nghèo, đói, thất học, sanh xuất cao, tử xuất cao, chiến tranh, thiên tai. Bên cạnh đó còn các loại phiền não, các loại ma nội tâm … Đó là cái khổ triền miên của con người ở bất cứ thời đại nào.

Ðệ Tam Nhãn không phải chỉ đơn giản là một công cụ để biết cái này cái kia, để thỏa mãn tò mò, để thỏa mãn lòng tự ái hay để che giấu mặc cảm tự ti. Nó là một công cụ giống như một cái đèn cực sáng - giúp xóa tan bóng tối của sự ngu dốt, làm tan đi ảo vọng của cuộc đời và mang lại sự hiểu biết chân chánh; là ý thức được tất cả mọi hiện tượng không có gì là bền vững, vạn vật luôn luôn biến đổi. Tất cả những điều này sẽ giúp đưa con người thoát ra khỏi vòng thập nhị nhân duyên của luân hồi sanh tử.

Tam Tiểu Thư:

Ông Tổng Quản, Ông trở thành Tu sĩ từ hồi nào vậy? Ông làm tôi kinh ngạc quá! Từ ngữ mà ông sử dụng mang màu sắc Tôn giáo, có lẽ Phật Giáo thì phải, à nó cũng giống như Ấn Độ giáo nữa. Lúc trước ông có học một trường Tôn giáo nào không vậy ông?

Ông Tổng Quản: 

Tam Tiểu Thư này, khoa học hiện đại, dù có hiện đại cách mấy cũng tự mình tạo ra hai rào cản. Hai rào cản này có lẽ đã hình thành cùng lúc với sự xuất hiện của con người từ thuở ban sơ, bình minh của lịch sử.

1. Chúng ta tự giam mình trong không gian ba chiều. Con người cũng biết là có những chiều không gian khác. Nhưng dù biết không gian có nhiều chiều mà lại không sử dụng được, thì biết cũng như không. Có lẽ điều tệ hại nhất là chúng ta còn tự quy ước rằng các Chiều không gian vuông góc với nhau. Người ta cố công tìm cách giải thích hiện tượng này và còn đổ lỗi đó là do cấu tạo Sinh học của bộ phận Tai trong và Não của con người.

2. Chúng ta tiếp thu thế giới tự nhiên qua quy luật Tư Duy Hình Thức. Người ta định nghĩa nó là chiếc cầu nối giữa Chủ Thể là: Con Người, và Đối Tượng là: Thế giới Tự nhiên Khách quan. Bốn Quy Luật Tư Duy gồm có:

   - Quy luật bài chung.
   - Quy luật đồng nhất.
   - Quy luật lý do đầy đủ.
   - Quy luật cấm mâu thuẫn.


Nếu chúng ta quan sát kỹ, thì hai trở ngại nói trên tương ứng với Thiền Vô Sắc. Hai rào cản này chính là đối thủ trực diện của:

   - Không Vô Biên Xứ.
   - Thức Vô Biên Xứ.


Vấn đề này đã được bộ môn Thiền Định giải quyết từ lâu, có lẽ từ 2.000 đến 3.000 năm về trước. Thật vậy, Thiền Vô Sắc đã có từ thời gian trước thời của Sakya Muni. Bản thân Sakya Muni cũng đã theo học Thiền Vô Sắc của những bậc Đạo sư đi trước. Cách tu Thiền Vô Sắc bao gồm Đối Tượng, tiến trình Kỹ Thuật, được trình bày một cách vô cùng kỹ lưỡng trong một số bộ Vi Diệu Pháp, Trung Bộ Kinh. Hiện nay, những tác phẩm này đã được thuyết minh bởi một số tác giả người Ðức, Anh, Pháp, Trung Quốc.

Các Khoa học gia cũng có đưa các giả thuyết về các vấn đề này. Nó thuộc lãnh vực của Vật Lý Lý Thuyết hiện đại, nhưng cũng chỉ là Lý thuyết mà thôi hay đúng hơn phải gọi là Giả thuyết; thế nhưng trên thực tế cũng chẳng ứng dụng vào được việc gì.

Có lẽ cái đáng sợ nhất trong cuộc sống là “Mình không biết cái điều mình không biết”.

Tam Tiểu Thư:

 Ông Tổng Quản, tôi thấy ông đổi màu như một con "Tắc Kè". Ông có thể nói lúc thì giống như một tu sĩ thứ thiệt, lúc thì biến thành nhà hùng biện, nhà vật lý lý thuyết. Nếu ông cho rằng các khoa học gia Tây phương bó tay về vấn đề này, vậy thì khoa học Ðông phương có thể giải quyết vấn đề này được không? Họ giải quyết bắt đầu từ đâu? Bằng cách nào?

Ông Tổng Quản:

Thì tôi đã nói với Tam Tiểu Thư nhiều lần rồi đó. Kỹ Thuật Thiền Định và việc mở Đệ Tam Nhãn, chính là chiếc chìa khóa cho vấn đề này.

Nhờ vào Kỹ Thuật Thiền Định và Đệ Tam Nhãn, một người bình thường đã tự mình lột xác, biến mình thành một Thực Thể khác, tự thay đổi cấu tạo Tinh thần cũng như Vật chất. Nói theo từ chuyên môn là thay đổi Tâm Sắc.

Có một Trường Phái Vi Diệu Pháp khác ngoài Trường Phái kinh điển (người ta cho rằng Trường Phái này đã có từ thuở Sakya Muni) đã phá vỡ quan điểm bảo thủ là Vô Ngã. Họ đưa ra Thuyết Nhân Thể (Pudgala). Theo thuyết này, thì các Thực Thể có một Linh hồn, Linh hồn này bất diệt trường tồn, tồn tại từ kiếp này qua kiếp khác. Tu Thiền Định có nghĩa là làm tăng hay giảm số lượng Tâm và Sắc.

Tam Tiểu Thư:

Tôi vẫn chưa hiểu nữa. Thay đổi Tâm và Sắc chính xác liên quan đến chuyện xuất hiện Con Mắt Thứ Ba như thế nào?

Ông Tổng Quản:

Nếu căn cứ vào Vi Diệu Pháp tạm gọi là truyền thống kinh điển, thì khi tu Thiền Định, chúng ta sử dụng một Đối Tượng để Quán Tưởng. Đối tượng này có thể là Vật Chất hoặc Tinh Thần. Với hai loại Đối tượng này, thì có hai ngã đi vào Luồng Tâm Thức của con người. Một là Ngũ Môn Hướng Tâm, hai là Ý Môn Hướng Tâm … Nếu tiến trình được xảy ra một cách thuận tiện, tích cực, lạc quan … thì Luồng Tâm Thức sẽ diễn tiến như sau: Chuẩn Bị, Cận Hành, Thuận Thứ, Chuyển Tánh, An Chỉ tâm. Chính tại giai đoạn An Chỉ Tâm này, các giác quan củaThực Thể ở trong trạng thái Thiền Định, được hình thành (theo Vi Diệu Pháp thì đây là hệ quả tất yếu). Và Con Mắt Thứ Ba là một trong những giác quan này.

Tam Tiểu Thư:

Ông có cách nào trình bày cho nó dễ hiểu không? Ông sử dụng quá nhiều lý thuyết, quá nhiều từ ngữ chuyên ngành nên khó hiểu quá à. Ông phải nghĩ ra cách nào chứ, ông phải làm sao cho tôi hiểu được! Tôi không thể nào hình dung ra được con mắt thứ 3, thứ 4 gì đó nó ra làm sao.

Ông Tổng Quản:

Tôi đã nghĩ ra cách để trình bày cho cô hiểu rồi. Mặc dù lối trình bày này không phải là chính xác, nhưng ít nhất nó cho cô một khái niệm, một ý niệm về cái nhìn của con mắt thứ 3 ở các cảnh giới khác với cảnh giới mà cô và tôi đang tồn tại. Thí dụ sau đây mà tôi sắp trình bày không phải là lạ lùng gì, mà khá phổ biến trong bộ môn vật lý. Mời Tam Tiểu Thư cùng quí độc giả vui lòng chú ý

Có một con kiến đang đi tìm một cục đường trên một mặt phẳng rộng vài cây số vuông. Trên mặt phẳng vài cây số vuông này, được trải một tấm ny lông trong suốt, giả thuyết là trong suốt tuyệt đối. Con kiến đang đi tìm cục đường được những con kiến đã đi tìm mồi về báo cho biết cự ly, hướng để tiến tới cục đường.

Bây giờ chúng ta hãy tưởng tượng, chúng ta là một người khổng lồ, có khả năng gấp mặt phẳng nylông trong suốt, trong đó có cục đường. Thế thì con kiến nhận được cục đường ngay lập tức. Nói một cách khác, công việc vừa làm ở trên, đã làm đảo lộn hiểu biết của con kiến về không gian và thời gian. Cụ thể là, đáng lẽ con kiến phải đi một thời gian rất lâu, một quãng đường rất dài, thì nay với 3 chiều không gian, mọi việc đều đảo lộn. Khi con kiến mang cục đường về tổ và kể lại cho bạn bè về hiện tượng nói trên, thì các bác học kiến giải thích là con kiến đi tìm cục đường đã rơi vào một trạng thái gọi là thay đổi chiều không gian, từ hai chiều thành ba chiều. Con người cũng chẳng khác gì. Khi chúng ta đi trên biển, khi chúng ta đi trên sa mạc, khi chúng ta đi ở trong một thành phố lớn xa lạ, chúng ta là một sinh vật 2 chiều. Không biết bao nhiêu người đã từng bị lạc đường khi đến những nơi không quen thuộc. Có người còn lạc đường rồi chết trên biển cả và sa mạc, vì rơi vào trạng thái không gian hai chiều không tìm thấy lối ra.

Tam Tiểu Thư còn nhớ, có lần chúng ta lái xe hơi ở thành phố Phan Thiết, đi tìm khách sạn mình đang ở, nhưng chẳng biết ở đâu. Mình đi lanh quanh riết xém bị cảnh sát phạt. Chợt cô nhớ ra máy định vị GPS. Khi khởi động máy, thì nhìn thấy khách sạn, chỉ cách mình có mấy chục thước ngay trước mặt. Chính nhờ máy định vị, mà con người hôm nay giữ được bản chất của mình là một sinh vật 3 chiều.

Chúng ta tự hỏi, nếu chiều không gian tăng lên nhiều hơn 3 chiều; thí dụ 4 chiều, 5 chiều, cho đến "N" chiều, hoặc "không" có chiều nào cả, thì việc gì sẽ xảy ra? Chắc quý độc giả còn nhớ, có một tài liệu cổ nào đó đã từng ghi “Ở nơi đó, không tới, không lui, không cao, không thấp, không sáng, không tối. không sanh, không diệt …”. Rõ ràng với công cụ Thiền Định, người xưa đã phát hiện ra những chiều Không gian, những Không gian khác …

Tam Tiểu Thư: 

Ông Tổng Quản ơi, nghe ông nói nhiều chữ “Không” làm tôi nhớ đến Bát Nhã Tâm Kinh đó. Tôi đọc ông nghe nha: “Này Xá Lợi Phất, Tướng Không của các Pháp không sanh, không diệt; không dơ, không sạch; không tăng không giảm …”. Tôi thích bài kinh này nhất đó ông. Hôm nào ông giải thích giúp tôi mấy chữ “không” này nhé! À tôi muốn hỏi ông là việc thay đổi chiều không gian khách quan, việc thay đổi chiều không gian chủ quan của một Thực Thể tu Thiền Định thì sẽ đưa đến hệ quả như thế nào? Những gì mà chúng ta quen gọi là một Tri Thức Luận lành mạnh, liệu giá trị của nó còn tồn tại trong những Không gian khác không ông? 

Ông Tổng Quản: 

Có lẽ ở nơi khác, một không gian mà chúng ta không thể khái niệm được, nó sẽ có những loại luận lý hình thức khác.

Ðệ Tam Nhãn chỉ mới ở cảnh Định Dục Giới, cũng đủ làm con người kinh ngạc, sở đắc về những kiến thức kỳ lạ, mà Con Người chưa từng trải nghiệm trong cuộc sống. Họ phát hiện ra có những thực thể sinh hoạt ở Cảnh giới khác, họ gặp những người đã chết rồi, có thể là thân nhân hoặc người xa lạ. Có những Thực Thể khá giống với con người, sinh hoạt ở dưới một chân núi có nhiều rừng cây, nhiều suối nước, họ khá giống với loài người, giới tính có Nam, có Nữ …

Con người chỉ là một dạng Thực Thể. Khoa học ngày hôm nay đang cố tìm ra sự hiện diện của những Con Người tương tự ở những hành tinh khác. Tuy nhiên sau bao nỗ lực tìm kiếm, họ cũng chẳng thấy nơi nào mà có những điều kiện sinh hoạt, điều kiện khí hậu, được cho là thuận lợi để phát triển sự sống. Mặt khác, khoảng cách của những hành tinh lại quá xa. Cho dù được tính bằng vận tốc ánh sáng, thì vận tốc ánh sáng cũng chẳng có nghĩa gì so với khoảng cách vũ trụ. Tệ hại hơn nữa, vận tốc giãn nở lại gia tăng chứ không chậm lại như con người dự đoán.

Có lẽ chỉ có Tâm con người là có vận tốc không giới hạn. Thật vậy, Tâm con người nằm ngoài Thời gian và Không gian.

Thiền Định có lẽ là Khoa học của ngày mai, Khoa học của Thông Tin Toàn Cảnh.

Tam Tiểu Thư: 

Ông Tổng Quản ơi, tôi sống bên ông từ nhỏ. Thế nhưng hôm nay, khi nghe ông nói chuyện, tôi rất bất ngờ về ông. Ông làm ơn mở cuốn Tạp Thư ra xem đi, hoặc là ông Nhập Định đi rồi nói cho tôi biết ông là ai được không ông … ?

Ông Tổng Quản mỉm cười, trầm ngâm nhìn ra cửa sổ. Gió thổi rì rào qua kẽ lá. Trăng thượng tuần đang chiếu sáng trên bầu trời đêm của núi rừng hùng vĩ cô tịch …

(còn tiếp) ...

Thursday, July 17, 2014


Kỹ Thuật mở Đệ Tam Nhãn 
 Cảnh Thiên Dục Giới


 
  Kể từ ngày bắt đâu tu tập Thiền Định với HHN, Sao Mai thấy cuộc sống của mình trở nên có ý nghĩa hơn. Dù chưa hiểu hết những gì HHN và cuốn Tạp Thư chỉ dẫn, nhưng Sao Mai bắt đầu yêu thích những câu chuyện không đoạn kết của HHN. Họ tiếp tục nói về những điều có một không hai này.

SAO MAI

-  Chị HHN à! Em đã theo lời chị, thực hành Thiền Định mấy tháng trời rồi, mà chưa thấy dấu hiệu của con mắt thứ ba đâu cả, sao em vẫn chỉ có hai mắt thôi vậy chị? Bữa nay chị chỉ thêm cho em vài "chiêu" nữa đi nhen. Hình như chị còn giấu nghề thì phải. Chán chị ghê! 

HHN: 

-  Sao Mai à! Em đã thực hành Thiền Định được một thời gian rồi, tuy chưa phải là quá dài đối với người tu Thiền Định, nhưng nó là điều cần thiết, là nền móng để mở Đệ Tam Nhãn. 

SAO MAI


-  Theo chị, để mở được Đệ Tam Nhãn, có nhất thiết cần đến một tiến trình tu tập Thiền Định như em đang làm bây giờ không? Và theo cuốn Tạp Thư, thì nó có cho biết là có ai đó không cần phải tập luyện theo một  tiến trình Kỹ Thuật Thiền Định với một khuôn khổ nào cả, mà vẫn mở được Đệ Tam Nhãn không? 

HHN

-  Chuyện này thì chị nghĩ không phải riêng em, mà có lẽ tất cả quý độc giả đang hành Thiền theo nhiều phương pháp khác nhau cũng sẽ thắc mắc như vậy. Cuốn Tạp Thư có kể rất nhiều trường hợp về những người đang tập luyện một loại Thiền Định nào đó, rồi bỗng dưng mở được Đệ Tam Nhãn. Chị xin kể cho cô nghe hai trường hợp điển hình:

   1. Có một vị giới tính là Nữ, tập Thiền Định một cách chung chung, cũng chẳng theo một Trường Phái, kỹ thuật nào rõ ràng cả. Qua một thời gian tập luyện, trong một buổi công phu Thiền Định, thì cô thấy xuất hiện trước mắt cô một cuốn phim ngắn với nội dung như sau: Cô là một người  Pháp, làm việc và giao dịch trong một Ngân Hàng, và cô tự nghĩ công việc này rất phù hợp với mình. Mặt khác, cô còn cảm nhận một âm thanh rõ ràng như sau: “T.Q.L sao chưa đến với Thầy?”. Việc này đã xảy ra cách đây trên ba thập kỷ, (chúng ta phải lưu ý, ở tại Việt Nam lúc bấy giờ, việc mua bán làm ăn là một việc không thể tưởng tượng được. Do đó, công việc làm ở một  Ngân Hàng là một khái niệm còn xa lạ đối với người dân). Thế rồi thời gian trôi qua đi, người phụ nữ kể trên, bây giờ là giám đốc một công ty cũng có tầm cỡ tại một Tỉnh ở Việt Nam. Tất nhiên với tầm cỡ này, việc mua bán phải thông qua Ngân Hàng. Do đó, việc giao dịch của cô thường xuyên phải ra Ngân Hàng. Còn hơn thế nữa, thân nhân của Cô ở nước ngoài, đều phải nhờ Cô gởi tiền ở tại Việt Nam, vì lãi suất ở tại Việt Nam hiện tại cao hơn ở nước ngoài. Nếu chúng ta quay lại thời gian cách đây mấy chục năm, thì ai ngờ được rằng những biểu tượng nói trên đã thành hiện thực. Còn việc cảm nhận tiếng gọi “T.Q.L sao chưa đến với Thầy?”, thì chưa có gì để xác minh. 


   2. Một vị khác, giới tính là Nam, cũng ở trường hợp tương tự như trên. Người này cũng tu Thiền Định theo một Trường Phái nào đó. Trường Phái này chẳng có lý thuyết hay kỹ thuật nào đặc biệt cả. Sự thật phải bảo là "Tu mò". Trong một buổi Thiền Định, người nam giới nói trên, thấy người vợ của mình bồng một đứa nhỏ. Điểm đặc biệt là đứa bé này có đôi mắt rất đẹp. Lúc đó anh ta nghĩ là đứa nhỏ đó là con của vợ mình. Việc này như thế cũng hợp lý và bình thường mà thôi. Nhưng sự việc lại không phải như vậy. Cô gái này không có con (do cố ý), mà sau này lại hay bồng một con mèo có đôi mắt lạ và tuyệt đẹp! Một mắt màu xanh da trời, một mắt màu xanh lá cây.


   Qua hai câu chuyện kể trên, có lẽ đã là câu trả lời cho Cô cùng quý độc giả. 


SAO MAI:

-  Vậy thì chính cuốn Tạp Thư cũng nói giống như em nghĩ. Và như vậy thì em phải tập Thiền Định bài bản làm gì nhỉ. Cứ tập bừa đi cũng có sao đâu! Chị nghĩ em nói có đúng không? 

HHN:

-  Ừ, thì tập bừa cũng được, nhưng kết quả tu tập thì "hên xui". Vậy em chịu không? Việc thấy biết cái gì đó là hệ quả tất yếu của việc tu Thiền Định. Tuy nhiên, cần phải khẳng định với em rằng, việc tu Thiền Định chỉ thực sự được gọi là có kết quả khi hành giả nhập định thành công mà thôi. Tập luyện mà không có hệ thống, không có một kỹ thuật nào cả, thì nó có một cái bất lợi lớn là mình không làm chủ được mình. Lúc thì Nhập Định rất tốt, nhưng cũng có lúc Nhập Định không được. Điều quan trọng là hành giả cũng chẳng hiểu tại sao lúc thì được, lúc thì không. Lắm khi bất chợt thấy một cái gì đó, thì cũng chẳng hiểu đó là cái gì. Ðến lúc cố ý muốn thấy biết một việc gì, thì lại chẳng thấy cái gì cả; hoặc là có thấy cái gì đó cũng chẳng hiểu ý nghĩa nó là gì. 

SAO MAI:

-  À, ra thế! Đúng là hên xui. Nhưng em xem trên internet rồi. Ðối với khoa học ngày hôm nay, thì người ta cho là hiện tượng Nhập Định này là do hai hóa chất: Dopamin và Noradrenalin đã tiết ra trong cơ thể người ta. Hiện tượng này cũng giống như người ta sử dụng các chất say (chất kích thích); chỉ khác ở chỗ là, các chất say này làm cho hai hóa chất nói trên tiết ra ào ạt và chấm dứt ngay. Trong khi với người tu Thiền Định, thì hai hóa chất này tiết ra có chừng mực nhưng lại không gây nghiện. Ðây là một lối lý giải của thuyết Chủ Sinh Lý cũng rất đáng quan tâm. Tuy nhiên, người chủ chương thuyết Chủ Tâm Lý thì lại đưa ra bằng chứng của Placebo, Y khoa thường gọi là giả dược; trường hợp giả châm cũng thế. Tâm Lý Học có ba chủ thuyết đó chị:

     - Chủ Tâm Lý  /  Chủ Sinh Lý  /  Tâm Sinh Lý Song Hành. 

HHN:

-  Thôi hôm nay chị sẽ bày cho em cách mở Nhãn của Định Dục Giới trước nhé?

SAO MAI:


-  Vậy là sao hả chị? Chị định nói là có nhiều loại Đệ Tam Nhãn lắm hả chị? nếu đúng thế, thì chị chỉ hết tất cả các cách mở các loại Đệ Tam Nhãn cho em đi nhen!

HHN:

-  Ðúng như em nói, không phải chỉ có một loại Đệ Tam Nhãn, mà có vô số các loại Đệ Tam Nhãn. Nó lệ thuộc vào từng Thực Thể; nghĩa là tùy thuộc vào cấu tạo Tâm, cấu tạo Sắc và Cảnh giới thực thể đang sinh hoạt. Để dễ hiểu điều này, em hãy tự quan sát chính mình. Cũng với chính hai con mắt bình thường mà mọi người đều có, ta nhìn một vật gì đó ở 2 thời điểm khác nhau, nó sẽ mang ý nghĩa hoàn toàn khác nhau. Khi còn nhỏ tuổi, chúng ta nhìn món đồ chơi là một cái gì đó quí giá. Nhưng với một tuổi đời nào đó, vì bận bịu lo sinh kế cuộc sống, chúng ta thậm chí còn không nhìn thấy món đồ chơi hiện hữu. Chắc chúng ta còn nhớ “Khi đã ghét nhìn Dơi hóa Chuột”! Chính bản thân chúng ta cũng có cái nhìn luôn luôn thay đổi tùy theo cấu tạo Tâm.

SAO MAI: 

-   Những gì chị trình bày làm cho em hết sức bất ngờ. Nhưng nếu suy nghĩ lại thì thấy cũng rất có lý. Cuốn Tạp Thư của chị cũng chứa đựng rất nhiều thông tin lạ. Em tu chưa tới đâu, nhưng cách nhìn cuộc sống của em bị thay đổi khá nhiều nhờ vào cuốn Tạp Thư này đó chị.


HHN:

-  Bây giờ chị sẽ trình bày cho em:

Cách thực tập để mở con Mắt thứ 3, ở cảnh Thiên Dục Giới

   Đầu tiên chúng ta hãy tạm chấp nhận vấn đề Cảnh giới, chiều không gian, môi trường, hệ quy chiếu … để dễ thuyết minh về vấn đề Đệ Tam Nhãn. Rất mong quí độc giả đón nhận như một Định đề mang tính chất tiên quyết.

   Sao Mai à, em phải xác định rõ ràng rằng Thiền Định chính là một công cụ, một Kỹ Thuật không thể thiếu được đối với vấn đề mở Đệ Tam Nhãn. Thiền định chính là công cụ giúp người ta có thể đạt được những khả năng khác thường - khả năng mà một con người bình thường không thể có được. Con Mắt thứ 3 cũng không là ngoại lệ. Tiến trình như sau:

   * Phải thực hiện các thao tác Kỹ Thuật về Thiền Định một cách chuẩn xác, chắc chắn.

   * Phải thuần thục trong công việc Nhập Định, ở đây chưa đề cập tới các lớp Định. 

   Có nghĩa là, em làm công việc Chú tâm vào một Đối tượng, chỉ một Đối tượng mà thôi. Việc Chú tâm phải luôn ở mức:

* Cao độ.
* Mạnh mẽ. 
* Liên tục.
(Những mô tả này là biểu tượng của hai từ ngữ: Tầm, Tứ).

   Khi em có ý định muốn biết một việc gì đó, thời gian có thể là: Quá khứ, Hiện tại, Vị lai, thì đầu tiên Cô phải xác định việc đó một cách rõ ràng, cụ thể. Câu hỏi phải đơn giản, rõ ràng, thực tế, ngắn gọn … và chỉ một câu hỏi mà thôi … Khi có ý định này, em phải Chú tâm, phải để ý tới trong nhiều giờ, nhiều ngày trước.

   Ðến khi công phu, em lấy Đối tượng là vấn đề mà mình muốn biết, làm Công án để Quán tưởng. Có nghĩa là, Đối tượng này làm hai chức năng trong buổi công phu Thiền Định:

1. Chỉ: Làm cho tâm đứng lại.
2. Quán: Có nghĩa là vấn đề được hiểu biết một cách rõ ràng, sự thật được phơi bày, vỡ lẽ.

   Diễn tiến thực tế sẽ xảy ra như sau: Khi Thiền Định, Chú tâm ở mức: Cao độ, mạnh mẽ, Liên tục vào Đối tượng mà mình đã có chủ ý từ trước (nhớ là phải thật thư giãn), nếu xảy ra hiện tượng Phóng tâm, thì cố gắng quay lại chủ đề mà mình đang Quán tưởng, nếu nỗ lực nhiều lần thì Tâm sẽ đứng im (trong bộ môn Thiền Định người ta gọi là Nhất Tâm)

   Nếu đạt được trạng thái Nhất Tâm thì có hai khả năng xảy ra: 

   * Mất đi ý thức một khoảng thời gian, khả năng mê đi. Sự mất ý thức này thường hay xảy ra nhất. 

   * Đôi khi có cảm giác hụt hẫng y như là mình đi máy bay qua những lỗ hổng của không khí.

   Rồi bỗng nhiên, ta trở lại có ý thức hoàn toàn. Con người trở nên sáng suốt, tâm lý vắng lặng, vững chắc. Các nhu cầu vật lý không còn nữa; mất ý thức về tình cảm thân nhân. Chúng ta đã biến chuyển thành một con người khác, cũng có một tri thức khác không phải như trước nữa, chúng ta hiện hữu ở một Cảnh giới khác. Công cụ tiếp nhận các thông tin từ thế giới khách quan vốn có xưa nay của mình là thị giác và thính giác, nay ở môi trường này hay hệ quy chiếu này … nó không còn sử dụng được nữa. Nói một cách khác, Sóng cơ học, Sóng điện từ … không còn là công cụ để chuyển tải thông tin.

*****

   Do cấu tạo Tâm và Sắc đã thay đổi khi ở trạng thái Thiền Định (phải thực sự Nhập Định được), nên nó cần những công cụ để tiếp nhận những thông tin khách quan hoặc chủ quan phù hợp và tương thích với loại thân này, cũng như phù hợp với môi trường sinh hoạt mà người ta gọi là Cảnh giới. 


   Ðệ Tam Nhãn bắt buộc phải xuất hiện để đáp ứng những yêu cầu nói trên. Nó chính là công cụ thích hợp cho loại Thực Thể này, môi trường này. Nó tiếp nhận những thông tin không dựa vào Sóng điện từ, Sóng cơ học. 


   Khi chúng ta đang ở trong trạng thái của Định Sắc Giới, cụ thể là Thiên Dục Giới thì nhờ con Mắt Thứ Ba xuất hiện, và chúng ta thấy các hình ảnh, lúc đầu rời rạc, vô nghĩa. Lý do là vì Định Lực của chúng ta chưa thực sự ổn định, tính chất Nhất Tâm còn yếu đuối. Qua nhiều buổi thực tập cùng với nhiều nỗ lực, cố gắng, qua nhiều kinh nghiệm, thì Nhất Tâm sẽ ổn định hơn. Các hình ảnh tương đối ổn định, dường như có một ý nghĩa nào đó, hình ảnh rõ ràng, không còn lờ mờ như trước. Những cuốn phim ngắn có thể xuất hiện, và người mở Đệ Tam Nhãn bắt đầu thấy những cuốn phim này có một ý nghĩa nào đó.


   Ðây là một diễn tiến lạc quan của việc mở Đệ Tam Nhãn, thuộc cảnh Định Dục Giới. Thực tế, diễn tiến không phải luôn luôn lạc quan như thế này. Thật vậy, nếu kết quả của Thiền Định mà lạc quan như phần nói trên, thì có lẽ ai cũng mở được Đệ Tam Nhãn.

SAO MAI:


-  Khoan khoan, chị nói chậm lại chút xíu đi. Em có thắc mắc này. Từ trước tới giờ em đọc trên mấy trang web dạy tu Thiền nhiều lắm rồi. Nói thiệt là chưa có ai chỉ cho em cách để biết quá khứ vị lai như chị. Người ta toàn nói là họ Nhập Định rồi thấy Phật Di Đà, thấy Chúa hoặc là nhập lên cõi Tứ Thiền Hữu Sắc, Vô Sắc gì gì đó. Em nghe cũng không thể hiểu được nữa. Chị giải thích chút xíu về việc này được không?

HHN:

 Có một hình thức khác rất thường xảy ra khi tu Thiền Định: Đó là người ta hay diễn tả họ thấy biết cái này cái khác. Có người cho là mình đã gặp được Phật, Chúa. Có người lại cho là mình đạt đến cảnh Diệt Tận Định (Diệt Thọ Tưởng Định). Có người lại cho là mình nhìn thấy như cái Cầu Vồng ở cảnh Vô Sắc … Khi hiện tượng này xảy ra, cả Thầy lẫn Tín đồ cũng chẳng biết phải giải thích làm sao. Lý do là vì trên thực tế họ đã Tu Tập và được hướng dẫn Tu Tập nhưng lại không có một nền tảng, một hệ thống, một cơ sở Lý thuyết hay Kỹ thuật nào cả. Chúng ta lấy Việt Nam là trường hợp điển hình. Không thiếu gì các vị, với một kiến thức khá khiêm tốn, chẳng theo đuổi một công cuộc khảo cứu về Phật giáo từ nguyên thủy đến nay hay bất cứ một bộ môn nào cả ... Rồi bỗng nhiên một hôm, thông báo cho mọi người biết họ đã gặp một Vị nào đó, trao cho họ trách nhiệm để truyền pháp. Công việc nghe quá giản dị phải không? Số Tín đồ càng ngày càng đông. Trong khi đó chính bản thân Thầy cũng chẳng biết mình sẽ đi đâu về đâu, thì tất nhiên các Tín đồ cũng không khác gì. Không Lý thuyết, không Kỹ thuật, không có Nội quy. (Tôn giáo thường gọi là giữ giới). Thật là một tương lai với đầy những thách thức!


   Việc tu Thiền Định thực không đơn giản, vì phản lại tự nhiên, phản lại các bản năng cơ bản vốn có, sanh tử của con người. Có lẽ người ta đã đúng khi bảo rằng: “Kẻ thù lớn nhất trong đời là chính mình” . 


    Mở được con mắt thứ 3 ở cảnh Thiên Dục Giới cũng là khó lắm rồi. Tất nhiên để đạt được những Cảnh giới cao hơn thì đòi hỏi người tu Thiền Định phải có những khả năng cao hơn nữa. Còn với việc tu Thiền Định gọi là "Mù", rất có thể thấy biết một cách tình cờ, nhưng không thể làm chủ được kỹ năng gọi là con Mắt thứ 3. Cũng có thể bảo, họ cũng có con Mắt thứ 3, nhưng rất khó sử dụng. Mặt khác, còn đặt người ta vào những tình huống rất khó xử trí. Thật vậy, một trong các yếu tố để có được con Mắt thứ 3 là Niềm tin. Tin là mình có thể mở được con Mắt thứ 3, không có Niềm tin này, thì không mở được con Mắt thứ 3. Nhưng nếu lại sử dụng Niềm tin một cách thái quá, thì lại sanh ra phản tác dụng như: Mê tín, dị đoan …, thậm chí là ảo giác, điên loạn. Niềm tin biến thành thiên đường cho các loại ma: 
Ma phiền não, Ngũ ấm ma, Tử ma, Thiên ma  

   Bất cứ ai, cũng có thể xem trên các trang web, những lời tự thuật của các vị mô tả việc tu Thiền Định của mình với những kết quả rất đáng quan ngại. Thật vậy, ở Cảnh Vô Sắc, mà lại thấy hình tướng, thì thật là phi lý. Phật hay Chúa, còn cao hơn cả Cảnh Vô Sắc. Ở Cảnh giới đã là Vô Sắc hoặc trên Vô Sắc thì số Tâm vô cùng là ít, mà nhìn thấy được thì không thể hiểu nỗi. Phải bảo đó là những hệ quả khốc hại, mặt trái của việc "Thấy Biết", xảy ra do người tu không hiểu rõ về việc "Thấy Biết". 
Con Mắt thứ 3 là một con dao có quá nhiều lưỡi, khả năng đứt tay rất cao nên việc sử dụng rất là khó. Đã là dao có nhiều lưỡi mà lại vô hình vô ảnh. Thêm vào đó lại chẳng ai biết nó là cái gì. Bất cứ ai coi thường sự hiểu biết Hàn lâm, coi thường việc hiểu biết Kinh viện về Kỹ thuật, Lý Thuyết Thiền Định, đều có khả năng gặp phải những việc phản tác dụng này. 

   Tâm lý con người rất thích các cuốn phim ngắn, vì nó rõ ràng dễ hiểu và có vẻ sát với cuộc sống nên dễ giải thích. Người ta cho rằng khi nhìn thấy những cuốn phim ngắn như vậy, có nghĩa là mở được con Mắt thứ 3 cao cấp. Thánh nữ Teresa Avila cũng từng viết như vậy trong tài liệu tự thuật về cuộc đời của mình. Ðiều này hoàn toàn sai lầm với vấn đề con Mắt thứ 3. Chính vì lý do nói trên, mà con người ta thường chỉ mở được con Mắt thứ 3 ở cảnh Định Dục Giới. Ðây là một Cảnh giới rất gần với con người, sinh hoạt tương tự như con người, thọ thực, có giới tính, số lượng Bất Thiện Tâm không khác với con người là bao nhiêu. Ai thực sự chứng Thiền Định đều biết đến các Chư Thiên Ma ở cõi Thiên Tha Hóa Tự Tại, người ta có thói quen gọi là Thiên Ma Ba Tuần. Hiểu biết này sẽ được trình bày trong những bài tiếp theo.


   Rất mong bài viết này đóng góp một phần nào các thông tin liên quan đến vấn đề mở Đệ Tam Nhãn; cụ thể là Đệ Tam Nhãn ở Cảnh Thiên Dục Giới. Đây chỉ là loại Đệ Tam Nhãn thấp nhất trong các loại Đệ Tam Nhãn mà thôi.

   Rất mong được quý độc giả đóng góp ý kiến và thảo luận. 

SAO MAI:

- Chị HHN à, nghe thoáng qua thì thấy việc mở con mắt thứ ba có vẻ dễ ăn; nhưng xem lại thì Đệ Tam Nhãn của chị lại còn khó hơn em tưởng nhiều, chị ạ. Hèn chi có lần chị nói "còn chờ ngàn kiếp sau ..." Nhưng nói thiệt cùng chị, em cảm thấy rất vui cho dù phải đi hàng ngàn kiếp; miễn là đừng đi lạc đường thôi à. Em sợ là mình đi lạc đường, mà đi càng nhanh thì nó lạc càng xa đó. 


   Âm thanh của những hàng thông như những giai điệu miên thường, đang hòa cuộn với tiếng gió réo rắc như báo hiệu một ngày đã qua đi. Từng cơn gió thoáng mát mơn man trên mái tóc thướt tha của Sao Mai, như trả lại sự thư giãn cho cả không gian sau một ngày hoạt động. Cô lại lặng lẽ suy ngẫm về những điều vừa học được và thầm cảm ơn sự chỉ dẫn chu đáo và nhiệt tình của người bạn HHN...


(còn tiếp) ...