Thursday, June 5, 2014


Tam Tiểu Thư tập luyện để mở con mắt thứ 3

Lời Thưa:

Những bài viết của HHN chỉ là sản phẩm của tưởng tượng (Highly Imaginative). Bản chất hoàn toàn là giả tưởng (Fictional In Nature), tuyệt đối không có một giá trị, xét ở bất cứ bình diện nào.

Tam Tiểu ThưÔng Tổng Quản cùng một số gia nhân tùy tùng đi làm bảo tiêu cho một chuyến xe mang đầy những kinh nhà Phật và những cuốn  sách Bảo Bối không phải để cải lão hoàn đồng mà là những sách Bảo bối dạy cách thoát ly sinh tử được nhà vua thỉnh về.
Đoàn bảo tiêu ghé vào một quán trọ bên đường. Tấm bảng hiệu xiêu vẹo với dòng chữ lờ mờ màu nâu nhạt “Tương Phùng Tửu Quán”. Chiều hôm nay có lẽ là một ngày đặc biệt. Ông Tổng Quản gọi rất nhiều món ăn để cùng thưởng thức với Tam Tiểu Thư. Ngoài song cửa, trăng tròn đang ẩn hiện sau đám mây lơ lửng. Màu trăng đang bao phủ núi đồi. Gió rì rào thổi qua hàng cây đại thụ.

Tam Tiểu Thư (nhìn ông Tổng quản đang sắp xếp các đĩa thức ăn trên bàn, cô ngạc nhiên lên tiếng)
Hôm nay hình như có gì đặc biệt phải không ông? Tôi biết mỗi khi có sự kiện gì quan trọng là ông hay gọi nhiều món ăn lắm. 

Ông Tổng Quản:
À! Cô bình tĩnh nghe tôi nói nhé: Hôm nay là một ngày đặc biệt đối với cô đó. Tôi dựa theo cuốn Tạp Thư, bắt đầu hướng dẫn cho cô tập luyện để mở con mắt thứ ba. Cô đồng ý không? Thời khóa biểu sẽ như thế này: Lúc mình di chuyển trên đường thì cô học lý thuyết, lúc dừng ở quán trọ buổi chiều thì cô thực hành …

Tam Tiểu Thư (cười vui vẻ):
Ôi! Ông đúng là dễ thương nhất trên đời. Lần này thì ông “super nice” đó! Ðây là ngày tôi chờ đợi từ lâu rồi, mà chắc quý độc giả cũng giống như tôi đó. Phải bảo là ngày hôm nay là “D-Day, Normandy landings” “Le grand jour est arrive”.

Ông Tổng Quản: 
Ðúng vậy! Bộ môn mà chúng ta sắp thực hành có mã số trong cuốn Tạp Thư là "Body guard"  nha cô.

Tam Tiểu Thư: 
Ông lại làm khó tôi rồi! Ông hay nói nhiều từ mà tôi chẳng biết là gì luôn. Bodyguard là cái gì hả ông?

Ông Tổng Quản: 
Bodyguard là một chiến dịch quân sự của quân đội đồng minh trong thế chiến thứ II. Ðây chính là kế “Dương Ðông kích Tây” “Lộng giả thành chân”. Do đó, cuộc đổ bộ Normandy vào ngày D-day mới thành công. Cô nhớ nha! Từ nay trở đi mình quy ước với nhau Bodyguard là bộ môn để thực hành mở con mắt thứ ba nhé.

Tam Tiểu Thư: 
Tôi nghe ông nói sẽ dạy tôi nên tôi mừng lắm! Thật ra tôi nghĩ thế này: Người tu Thiền Định ở bất cứ Trường phái nào đều mong có ngày mở được con mắt thứ ba. Chính bản thân ngài Sakya Muni cũng nhờ có Con Mắt Thứ Ba mới có thể thông suốt được mọi vấn đề. 

Tôi cũng biết nhiều người coi thường về việc mở Con Mắt Thứ Ba. Có lẽ những người này rơi vào một trong hai lý do sau đây: Một là khiêm tốn giả tạo
 (Fausse Modestie), hai là họ cũng muốn mở Con Mắt Thứ Ba nhưng không biết mở bằng cách nào! Thật sự, có lẽ từ Cổ chí Kim, từ Ðông sang Tây, người ta không hề thấy một tài liệu nào chính quy, nghiêm chỉnh hướng dẫn làm công việc này. Họa chăng có một tài liệu là Ðệ Tam Nhãn của tác giả Cyril Hoskin hay ông Rampa nào đó thì lại đầy dẫy những nghi vấn về tính chất nhất quán, thành ra có cũng như không. Tôi cũng đi tìm Thầy, thì dường như chính Thầy cũng chẳng có khả năng của Con Mắt Thứ Ba thì làm sao mà chỉ dạy cho chúng ta được. Nói lý thuyết suông thì có đầy trên những trang web, kỹ thuật mở Con Mắt Thứ Ba được mô tả trong khoảng một trang giấy thôi à.

Ông Tổng quản ạ! Tôi nhớ lại những vị nổi tiếng là có những khả năng dị thường ở Việt Nam cũng như trên thế giới, thì hình như họ đều trải qua những biến cố rất đáng sợ! Có một nhà Ngoại cảm nào đó nổi tiếng ở Việt Nam và cũng được thế giới biết tới thì bị chó dại cắn, chết đi sống lại. Bà Vanga thì bị cơn lốc cuốn đi làm hư hỏng cả hai mắt, còn Cyril Hoskin thì bị chấn động vì té từ trên cây xuống dưới đất. Sau biến cố đó thì có một vị gọi là Rampa xuất hiện. Chính nhân vật Rampa này lại tự thuật, để có được Đệ Tam Nhãn, ông cũng bị đục một cái lỗ ở hộp sọ trước trán, lúc đầu đau dữ dội
 (The pain was intense), sau đó thì mở con mắt thứ ba nhìn thấy hào quang.

Như ông thấy đấy, tôi là một cô gái bình thường về thể chất cũng như tinh thần. Cao trên 1m50, nặng gần 50 kg. Đẹp thì chẳng dám nói đẹp hơn ai, nhưng có lẽ cũng hơi bị được, dễ nhìn dễ coi, tiếng Tây gọi bằng Presentable … Khả năng lấy chồng của tôi thì bao la … Bây giờ tập luyện để có được con mắt thứ 3 thì tôi cũng thích lắm
 (ai mà chả thích!). Nhưng vì nhu cầu tập luyện mà trở thành một con người không bình thường; thậm chí ít nhiều là một con người khuyết tật, thì làm tôi phân vân quá! Không biết có nên tập hay không nữa, không chừng “Lợi bất cập hại”! Ông cứ thử nghĩ đi, phải đục hay khoan gì đó một cái lỗ ở hộp sọ trước trán với những dụng cụ quá thô sơ, chẳng có khái niệm gì về vấn đề vô trùng, sao mà nghe kinh khủng quá ông ơi! Chẳng may đụng chạm vào não trong quá trình khoan đục, máu chảy ra từ từ trong não là chết đó. Nói thiệt ông nghe, nếu may mắn mà sống thì chắc tôi cũng bị chập mạch dở hơi. Cơ thể sẽ phản ứng ra sao với một miếng gỗ, nó tồn tại hay tan đi theo thời gian? Mặt khác ông nên nhớ, vào thời buổi bây giờ của ông và tôi, chưa có khoa giải phẩu thẩm mỹ sọ não hoàn hảo đâu. Cứ cho là may mắn chuyện đục sọ “thuận buồm xuôi gió”, thì việc để lại một cái sẹo trước trán nhìn ớn lắm vì mặt tôi sẽ giống xã hội đen. Việc này theo tôi nghĩ, trước khi ông định đục hay khoan vào trán của tôi, thì tốt hơn mình nên đi Sài Gòn hỏi thăm Bác sĩ mà ông quen đó, xem có thể thực hiện được không. Dù sao người ta cũng là bác sĩ nên hiểu rõ vấn đề hơn Ông và Tôi đó.

Tổng Quản: 
Cô nói thế cũng chưa đủ, phải bổ túc thêm một số chi tiết về những vấn đề mà cô đã nêu ra ở trên. Thật vậy, người ta vẫn đang tự hỏi, thật sự ai là tác giả của 20 cuốn sách mang tên tác giả là Lobsang Rampa? Cyril Hoskin hay Lobsang Rampa? Văn phòng Ðạt Lai Lạt Ma có những ý kiến tiêu cực về những vấn đề này. Họ nói rằng: We do not credence in the books.
Mặt khác, một vị Ngoại cảm nổi tiếng ở Việt Nam cũng như bà Vanga, Barbara Ann Brennan … đều cho biết có những người, những thực thể mà chúng ta không nhìn thấy được, cho những vị này các thông tin về ai đó khi các vị này muốn biết. Thực sự, dường như họ là cái gạch nối giữa người sống và người chết.

Căn cứ vào một số những trường hợp điển hình nêu trên; là đại diện cho rất nhiều vị có khả năng khác thường thuộc dạng này, chúng ta có thể đưa đến một đúc kết như sau: Những trường hợp này đều có những đặc tính chung cơ bản:

1. Do một diễn biến không dự đoán trước được, một tai nạn vô cùng bất ngờ đã tạo ra một cú sốc, một chấn động thể chất và tinh thần làm cho nạn nhân
 bị mất đi ý thức. Sau khi tỉnh lại, họ trở thành một con người khác.

2. Có những thực thể, những vong linh sinh vật vô hình … nhập vào cơ thể vật chất. Hoặc có khi không nhập nhưng lại nói hoặc đưa các hình ảnh để những vị nói trên có được các thông tin họ muốn biết. Trong trạng thái khi họ tiếp nhận các thông tin nói trên, họ cũng
 bị mất đi ý thức và dường như 
trở thành một người khác.

3. Những đặc điểm chung khác mà chúng ta cần quan tâm: Đó là họ ăn thịt, uống rượu, có giới tính, lối sinh hoạt rất gần với con người. Do đó các hiểu biết của họ rất giới hạn, khác với người mở nhãn thực sự.


Tam Tiểu Thư: 
Những điều ông nói càng làm tôi hiểu rõ vấn đề hơn, vậy tôi bây giờ nên học loại lý thuyết nào, kỹ thuật nào để mở Con Mắt Thứ Ba?

Tổng Quản: 
Những gì mà tôi sẽ trình bày cho cô đều bắt nguồn từ trong cuốn Tạp Thư. Bản chất của nó khác hẳn với câu chuyện của những vị nói trên. Tài liệu này, có một lý thuyết và kỹ thuật rõ ràng, hướng dẫn chúng ta tự chủ động để làm mất đi ý thức, tự mình chuyển đổi thành một con người khác để có những khả năng khác thường.

Kế đó, người tu Thiền Định sử dụng kỹ thuật và hiểu biết của mình, của lý thuyết Thiền Định để chọn lựa, để phân biệt một cách rõ ràng các loại Đệ Tam Nhãn mà mình đang có.


Tam Tiểu Thư: 
Người ta chọn lựa phân biệt bằng cách nào ông?

Tổng Quản: 
À! Người ta phải sử dụng sức mạnh của Thiền Định thì mới chọn lựa được loại Tâm, loại Sắc, loại Cảnh giới mà mình mong muốn. Khi loại Con Mắt Thứ Ba nào đó xuất hiện, thì họ kiểm tra các tín hiệu - là các loại hình ảnh, để biết rõ về loại Con Mắt Thứ Ba mà hiện họ đang có.

Tam tiểu Thư: 
Tôi vẫn chưa hiểu như vậy là sao chứ? Ông nói rõ hơn đi ông!

Tổng Quản: 
Tôi sẽ đưa ra một thí dụ cụ thể nhé: Nếu chúng ta thấy những cuốn phim ngắn, khá sát với cuộc sống bình thường, thì đó là Định Dục Giới. Nếu những đối tượng mà mình nhìn thấy có những chi tiết như Nam tánh hay Nữ tánh, thì chúng ta lại càng dễ để khẳng định đó chính là cảnh Định Dục Giới. Nếu chúng ta nhìn thấy Biểu tượng, không có Nam tánh hay Nữ tánh, thì khả năng đó là Con Mắt Thứ Ba của Thiền Hữu Sắc. Các phân biệt này căn cứ vào kỹ thuật của tài liệu Vi Diệu Pháp. Nếu có ai đó không công nhận tài liệu Vi Diệu Pháp, thì nhận xét nói trên không có giá trị.

Mặt khác, người tu Thiền Định phải vô cùng cảnh giác với những loại thác loạn tâm lý vô cùng phổ thông cho bất cứ ai chứ chẳng nhất thiết là cho người tu Thiền Định.
 

* Mysticisme: Tư tưởng điên loạn hay ảo giác. Cảm giác sảng khoái hay nhìn thấy những hình ảnh liên quan tới tôn giáo hay mê tín dị đoan.
 

* Hallucination: Cảm giác bệnh hoạn không do một đối tượng có thật kích thích.

* Paranoia:
Tự cho mình là cao quý. Thác loạn về đẳng cấp, chức vụ, quyền lực v.v…

Những phần trình bày trên thực sự là khó hiểu nếu chúng ta chỉ tìm hiểu về mặt lý thuyết. Tuy nhiên, nếu Tam Tiểu Thư cũng như quý độc giả thực sự có kinh nghiệm về tu Thiền Định; nghĩa là khi chúng ta tu tập và đạt được những kết quả nhất định nào đó, thì lại thấy nó có một ý nghĩa rất khác. Hiểu được vấn đề và phân biệt được các chi tiết; có lẽ là một sự đổi đời rất lớn. Nó giúp chấm dứt những nghi ngờ, phân vân, ám ảnh, làm cho người tu Thiền vô cùng khổ tâm.

Khi truy cập vào những trang web dạy tu tập, chúng ta đã từng thấy rất nhiều người tu Thiền Định tường thuật một cách trung thực là mình đã gặp Chúa, gặp Phật; và người ta đoan chắc là đã thành công trong việc tu Thiền Định.

Nhận xét xin dành cho quí độc giả và bản thân những vị cho rằng mình đã có những thành quả tích cực nào đó.

Tam Tiểu Thư: 
Tôi thấy những thông tin của ông rất đáng quan tâm để người tu Thiền Định cảnh giác. Thực tế, để khởi sự tu tập thì tôi phải làm gì hả ông?

Ông Tổng Quản: 
Giây lát nữa cô sẽ vô phòng riêng của cô, cô bỏ mùng xuống để tránh các loại côn trùng.  Rồi tự mình chọn lấy một vị thế mà mình cho là thư giãn và thoải mái nhất. Cách kiểm tra vị thế như sau: Ở trong bất cứ một vị thế nào đó mà cô thấy có thể ngủ được, có nghĩa là vị thế đó tốt. Công việc này người ta gọi là điều thân. Việc điều thân tưởng là tầm thường nhưng nó đóng một vai trò quyết định và vô cùng quan trọng trong khi tu Thiền Định. Nếu chúng ta khi ngồi Thiền Định, trong người cảm thấy bứt rứt khó chịu; thể chất cũng như tinh thần lạnh quá, nóng quá, ho … đều là những trở ngại. Do đó, phải phòng ngừa kỹ lưỡng những trở ngại khi chọn cách ngồi cũng như những nơi tu Thiền Định.

Tam Tiểu Thư: 
Ông thấy công việc bảo tiêu này rất vất vả, di chuyển khắp nơi trong thâm sơn cùng cốc. Làm sao mà có thể có những thuận lợi như ông nói được chứ?

Tổng Quản: 
Chúng ta đừng đòi hỏi những điều kiện tối ưu, mà nên chọn những điều kiện nào thực tế nhất. Thực vậy, nếu không tập luyện cho có một thói quen là thích ứng được với những hoàn cảnh để Nhập Định; thì đến khi bỏ xác thế gian, chắc chắn chúng ta trở nên lúng túng. Do đó, chúng ta phải cố gắng thích ứng với những hoàn cảnh khác nhau bằng ý chí và nghị lực. Ai có thể biết trước là mình sẽ chết ra sao chứ?
.·:*´¨¨`*:·..·:*´¨¨`*:·.

Sau khi đã điều thân, giữ hơi thở bình thường, tay phải để trên tay trái, nhắm mắt lại một cách nhẹ nhàng, tập trung vào huyệt Ấn đường - người ta còn gọi là luân xa Ajna. Việc tập trung phải có 3 tính chất sau đây, mong cô luôn luôn ghi nhớ:

* Cao độ.
* Cường độ.
* Trường độ.

.·:*´¨¨`*:·..·:*´¨¨`*:·.

Tam Tiểu Thư: 
Tôi hiểu ông nói gì rồi. Vị trí tập trung thì ở luân xa Ajna, nhưng chúng ta tập trung vào cái gì mới được chứ? 

Tổng Quản: 
Kịch bản sẽ diễn tiến như sau: Tôi biết cô không phải là một Phật tử, nhưng người Việt Nam họ hay tự cho mình là Phật giáo. Cũng như người Ấn Ðộ, họ tự cho mình là Ân Độ giáo.

Tại luân xa Ajna hay huyệt Ấn Đường, cô hãy hình dung  tưởng tượng một cách mạnh mẽ  liên tục như sau:
* Tại đây có một quả cầu đường kính khoảng 2cm.
Trong quả cầu này có một vị Phật ngồi trên tòa sen.
Toàn bộ có ánh sáng màu vàng rực rỡ. 


* Vị Phật này có hai vị thế:

1. Quay vào trong đối diện với chúng ta.
2. Quay ra ngoài cùng chiều với chúng ta.

Chúng ta là một con người khác, quan sát vị Phật và quan sát chính mình;
có nghĩa là chúng ta nhìn thấy vị Phật này và nhìn thấy chúng ta.

* Chú tâm vào một trong hai đối tượng nói trên một cách mạnh mẽ, liên tục và thật thư giãn. Việc chọn lựa này phải làm thật kỹ và dứt khoát. Nếu không chọn lựa cho kỹ thì lúc công phu Thiền Định sẽ sanh ra tâm lý phân vân không biết nên chọn cái nào. Tu Thiền Định mà có Tâm nghi ngờ  điều tối kỵ.

.·:*´¨¨`*:·..·:*´¨¨`*:·.

Tam Tiểu Thư: 
Nếu mà thực hiện y như ông mới chỉ, thì sẽ xảy ra chuyện gì hả ông?

Tổng Quản: 
Nếu việc này được thực hiện đúng như kịch bản mà chúng ta đã chuẩn bị từ trước, thì diễn tiến sẽ xảy ra như sau: 
Đầu tiên chúng ta nhìn thấy đối tượng này càng ngày càng rõ ràng. Việc nhìn thấy kéo dài được trong một khoảng thời gian nào đó. Chúng ta cố gắng để nhìn rõ hình ảnh vị Phật ngồi trên tòa Sen tỏa sáng màu vàng. Nhưng hình ảnh này, dù chúng ta cố gắng giữ, cũng sẽ lu mờ đi từ từ. Sau đó chúng ta mất đi ý thức, dài hay ngắn, lâu hay mau tùy theo từng người.

Có hai khả năng xảy ra:

1. Hôn trầm: Là chúng ta mê đi, rồi ngủ thiếp đi luôn.
2. Mất ý thức: Là chúng ta mất đi ý thức trong giây lát, rồi bỗng dưng chúng ta hoàn toàn ý thức được các vấn đề. Mọi thứ đều phẳng lặng, an tịnh. Thời gian, không gian dường như không còn hiện hữu. Một cảm giác mà tài liệu kinh sách hay gọi là không thể nghĩ bàn (bất khả tư nghì). Ngoài ra còn có thể có những diễn tiến khác nữa, nó tùy vào cấu tạo Tâm của từng cá nhân. Nói một cách khác, vô tình chúng ta đã chuyển thành một con người khác mà chúng ta không hay.

Hiện tượng của người tu Thiền Định ở những giai đoạn đầu tiên rất giống với những hiện tượng của người Cận tử. Người ta thường thấy những đốm sáng, những vầng sáng, thấy mình đi trong đường hầm nửa tối nửa sáng, gặp những người lạ người quen, gặp những thân nhân đã chết rồi, nhìn thấy đằng xa của đường hầm là ánh sáng rực rỡ như miệng một cái giếng vĩ đại và người ta thường tìm cách đi về phía có ánh sáng và còn rất nhiều các diễn tiến khác nữa.

Rất mong được quý độc giả đóng góp thông tin, để mọi người trong chúng ta có cơ hội học hỏi, mở mang hiểu biết về một lãnh vực mà đến hôm nay có lẽ vẫn còn rất mới. 

Liệu Tam tiểu Thư có thành công khi tập luyện theo mã số “Bodyguard” của cuốn Tạp Thư cung cấp? Xin mời quí độc giả đón xem tập kế tiếp ...

Còn tiếp ...





Kính thưa quý vị độc giả!


Đề tài Xuất Hồn đã được một số quý vị độc giả quan tâm. Trong số các độc giả quan tâm tới vấn đề này, có một quý vị đã gửi thư cho chúng tôi bày tỏ sự quan tâm và chia sẻ. Cám ơn quý độc giả đã quan tâm tới đề tài này! Sau đây chúng tôi xin hân  hạnh đăng nguyên văn ý kiến của quý độc giả này:

Anh/ chị cho em hỏi việc xuất hồn có hại hay không? Và xuất hồn ra rồi thì làm cách nào để quay lại? Em muốn học kỹ thuật này.”

Kính thưa quý vị!

Nhờ vào câu hỏi của quý vị mà chúng ta có cơ hội để triển khai vấn đề này mang tính chất thực tế hơn. Thật ra câu hỏi của quý độc giả quá đơn giản! Bởi lẽ quý độc giả coi như đã thừa nhận việc xuất hồn là một hiện tượng của thế giới tự nhiên. Chúng ta chỉ còn đặt ra vấn đề là việc xuất hồn có hại hay không và sau khi xuất hồn có trở về được hay không? 

Kính thưa quý độc giả!

Cứ coi như chúng ta đồng ý một cách mặc nhiên rằng hiện tượng xuất hồn là một hiện tượng có thật. Thì căn cứ trên những câu hỏi của quý vị, chúng tôi xin được trả lời quý vị như sau: Việc xuất hồn không có gì là có hại cả! Việc xuất hồn ra thì khó; còn việc trở lại thì chẳng có gì mà phải học cả, hồn trở về cơ thể một cách tự nhiên.

Tuy nhiên, để làm được điều này, trước hết yêu cầu chúng ta phải huân tập được sự định tâm một cách dễ dàng. Song song với việc định tâm, tâm của chúng ta cũng phải là những tâm tương ưng với những thiện tâm theo lý thuyết Vi Diệu Pháp trong những bài viết : "Các loại tâm Vương theo Vi Diệu Pháp" của trang blog này.

Nếu chúng ta còn nhiều sự sân hận và có nhiều bất thiện tâm (ví như tâm "tôi" còn nhiều) thì việc Xuất Hồn sẽ trở thành một việc nguy hiểm. Ví dụ như khi xuất hồn ra rồi thì đánh nhau với các thực thể khác (ngôn ngữ bình dân có thể gọi là ma, quỷ); hoặc dễ bị những thực thể khác lợi dụng để nhập vào chiếm hữu và sử dụng thân xác vật lý của chúng ta.

Sau này chúng tôi sẽ có những bài viết dựa trên lý thuyết và những trải nghiệm thực tế chia sẻ cùng quý vị về đề tài này cũng như những đề tài về thiền định.

Cảm ơn quý vị đã quan tâm và chia sẻ!

Kính thưa quý vị độc giả!

Trên thực tế ngày hôm nay, vấn đề mà quý độc giả nêu ra ở trên là một vấn đề khá phức tạp hơn người ta tưởng rất nhiều!

Một số khoa học gia ngày hôm nay không tin hiện tượng Xuất hồn  này  là một hiện tượng có thật. Thật vậy, theo quan điểm của khoa học ngày hôm nay thì một hiện tượng được gọi là một hiện tượng khách quan của thế giới tự nhiên phải có một số tính chất kể sau: Hiện tượng đó phải xảy ra một cách đều đặn, có mối liên hệ với nhau, và phải được quan sát bởi những chuyên gia có thẩm quyền…Với quan điểm này thì chắc chắn khoa học và những hiện tượng nằm ngoài những nguyên tắc và đặc điểm nói trên chẳng bao giờ có cơ may gặp nhau.

Sunday, June 1, 2014




Kính thưa quý vị!

Một độc giả của chúng ta đã gửi E.mail tới với ý kiến và các câu hỏi như sau:

Anh/ chị cho em hỏi việc xuất hồn có hại hay không? Và xuất hồn ra rồi thì làm cách nào để quay lại? Em muốn học kỹ thuật này.

Kính thưa quý anh/chị!

Cảm ơn sự quan tâm của quý anh/ chị độc giả đã quan tâm  và đặt những câu hỏi để chúng ta cùng chia sẻ!

Nhóm HHN chúng em sẽ trả lời tới quý anh chị trong thời gian sớm nhất (khoảng 2-3 ngày tới), sau  khi đăng bài viết này.

Vì thời gian gần đây, nhóm HHN chúng em lo bận nhiều công chuyện nên chưa thể tập trung viết bài và đăng bài mới. Sắp tới đây, chúng em sẽ chia sẻ cùng quý vị những bài viết về đề tài thiền định. Và những bài viết trên tinh thần phân tích khoa học về đề tài xuất hồn vẫn sẽ được tiếp tục gửi tới quý vị độc giả trong thời gian tới.

Xin chân thành cảm ơn quý vị độc giả đã quan tâm và chia sẻ!

HHN






Monday, May 26, 2014


Thiền định  đàn pháp Mạn Đà La Tây Tạng 


Trời cuối thu. Gió thổi từng cơn mang theo cái lạnh đầu Đông vào vùng rừng núi. Lá vàng rơi rụng. Bước chân của Sao Mai cùng HHN dẫm trên thảm lá xạc xào. Sao Mai co ro trong chiếc áo khoác xám bạc màu. Bầu trời mây mù giăng giăng …  

SAO MAI (cuộn chiếc khăn quàng vào quanh cổ, Cô lên tiếng):

À! Chị HHN ơi! Cho em hỏi là nếu bây giờ tôi muốn tập trung tu Thiền Định để mở Con Mắt Thứ Ba, thì em có phải chuẩn bị gì không? Ý em nói là em  nên tổ chức cuộc sống của em như thế nào hả chị?


HHN:

Nếu ai có ý định chọn việc tu Thiền Định là một công việc có tính cách chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp thì cần phải có sự chuẩn bị lâu dài. Cuốn sách Bảo Bối có kể nhiều kinh nghiệm cười ra nước mắt. Ví dụ như có một người phụ nữ buôn bán hạt xoàn ở Sài Gòn, khi phát tâm để tu theo một ông Thầy nào đó, người phụ nữ này mang tài sản ra cho hết, vì cho rằng đó là hành động phù hợp với khái niệm “Vô Thường, Vô Ngã” … Cuối cùng trở nên nghèo khó vì quá cực khổ, sống lang thang nay đây mai đó … và sống nhờ vào sự hảo tâm của những người bạn hữu của mình. Ðây là một trường hợp điển hình, có thể xảy ra cho bất cứ ai trong quá khứ, hiện tại và vị lai.

Dường như chẳng phải một mình Sakya Muni, mà còn rất nhiều Trường Phái khác đều chọn con đường Trung Dung, cũng chẳng nên hành thân hoại xác một cách vô ích, nhưng cũng không nên buông thả trong những dục lạc thấp hèn. Quan điểm này có lẽ thích hợp cho tất cả mọi người, cho những công dân bình thường nếu muốn sống yên ổn trong bất cứ một xã hội nào đó.

SAO MAI:

Nói thật với chị là tính em thích hoạt động, đi lại. Bây giờ bảo em ngồi xếp bằng tu thiền chắc rất là khó khăn. Tu thiền có phải ăn chay không hả chị?

HHN:

Người ta không thể ngờ được rằng Sakya Muni lại chu đáo đến vậy. Phải nói rằng Phật giáo là một Khoa học nhiều hơn là một Tôn giáo. Thật vậy, nhiều khoa học gia có ý nghĩ này. Những tài liệu của Phật giáo đã có cách đây nhiều ngàn năm đã đề cập đến vấn đề tập thể dục, gọi là Kinh Hành, không ngồi suốt ngày tu Thiền Định, khuyên con người phải tập thể dục là đi bộ. Lời tiên tri này được nhìn thấy khắp mọi nơi trên thế giới ở tiền bán thế kỷ 21. Đi đâu chúng ta cũng thấy người ta tập thể dục, đó là liều thuốc vạn năng, trị bách bệnh. Nếu ai đã từng tập thể dục, chạy, đi bộ … trong thời gian dài, thì thấy gần như mình không bao giờ bệnh cả. Như vậy, Sakya Muni còn là một nhà khoa học về ngành y. Ngài biết rõ máu huyết không lưu thông thì sanh ra bệnh. Thật vậy, khi chạy nhảy làm cho các cơ quan nội tạng hoạt động, máu huyết lưu thông, kể cả não.

Ở thế kỷ 21, điều tiên đoán của Sakya Muni lại trở nên chính xác khi đi đâu cũng thấy tiệm cơm Chay. Tóm lại, dân gian có một số tiêu chí cơ bản khuyến cáo người tu:

- Phải có tiền để sống.
- Phải có một phương pháp tu.
- Phải có một địa điểm để công phu.
- Phải có bạn, phải có giới thân cận tốt, kiểu như một diễn đàn sống.

Tất cả những tiêu chí đó gọi là: Pháp, Tài, Lữ, Ðịa. 

SAO MAI:

Chị biết không, em rất ấn tượng với các tu sĩ Tây Tạng. Em đã có dịp viếng thăm các tu sĩ này trong những cái Thất rất đơn sơ trên núi. Họ sống đơn giản lắm, gần như không có đồ đạc gì trong Thất cả. Cuốn sách Bửu Bối có biết gì về những người tu Thiền Định này không chị?

HHN:

Nếu người Âu Mỹ là bậc thầy của khoa học hiện đại thì người Tây Tạng là bậc Thầy của khoa Huyền Môn. Họ dầy dạn kinh nghiệm trong việc tu Thiền Định. Tất nhiên chuyện gì thì cũng có thật giả lẫn lộn. Điều này cũng rất là bình thường của bất cứ xã hội nào. Nếu chúng ta quan tâm tới góc cạnh tích cực thì cũng thấy nhiều kinh nghiệm để lại, nhiều tiêu chí, nhiều kỹ thuật đáng quan tâm. Họ đưa ra 6 tiêu chí gọi là cơ bản:

1. Mặc dù tự cho mình là Đốn Ngộ, nhưng họ có một kiểu Đốn Ngộ rất khác. Họ quan niệm rằng cần phải đọc nhiều sách vở, cần phải học hỏi rất nhiều kiến thức ở các vị Chân sư, sau đó tự mình thực tập. Chính qua quá trình thực tập họ sẽ đánh giá được phương pháp nào là tương thích với chính mình. Quan điểm tự do chọn lựa phương pháp, tự do lựa chọn vị Thầy là đặc trưng của nền văn hóa Tây Tạng.

2. Chỉ chọn một cách tập duy nhất sau khi đã kinh qua thực tế. Không tập nhiều thứ một lúc.

3. Lối sống giản dị bình thường, thái độ khiêm tốn, tuyệt đối không bao giờ làm mình nổi trội, nổi tiếng, trở nên vĩ đại trước đám đông. Nên có một cuộc sống bình dị, coi thường tất cả những vinh hoa phú quí của trần gian.

4. Bình thản trước tất cả những biến đổi của cuộc đời. Sống một cuộc đời như con Chó hay con Heo. Có cái gì ăn cái đó, không nên chọn lựa. Cũng chẳng cố chiếm đoạt hay né tránh. Ðón nhận một cách tự nhiên cái gì đến với mình, dù là giàu sang hay nghèo khó. Bình thản trước các lời khen chê. Ðừng phân biệt chánh tà, vinh nhục, thiện ác. Ðừng hối tiếc hay khổ đau những gì đã làm. Ðừng kiêu căng ngạo mạn.

5. Quán Tưởng Tham Thiền với tinh thần vô Chấp, đó là bản chất của sự vật, là cách thức hiện hữu của vạn pháp đa thù.

6. Những điều trình bày trên không thể nghỉ bàn, nó tương thích với tính Không của vạn vật.

Họ chỉ có một Kỹ Thuật duy nhất, dù các Trường Phái có khác nhau, đó là bài tập luyện tiên quyết: Tập trung tư tưởng một cách triệt để, tập trung tư tưởng mục đích để đánh bạt đi cái ý thức.


SAO MAI:

Hình như trước đây chị từng nói với em về Mạn Đà La gì đó khi nói về Kỹ Thuật tu của Tây Tạng thì phải. Chị có thể giải thích kỹ thêm cho em hiểu về vấn đề này không?! Em có thấy mấy cái vòng tròn Đàn Pháp nhưng chưa hiểu nhiều về Kỹ Thuật tu của họ.

HHN:

Đối tượng tập luyện đã được nhắc tới nhiều lần ở những bài viết trước, chắc chắn Sao Mai và quí độc giả còn nhớ là Dakini Yidam. Họ cho rằng nếu tập trung tư tưởng liên tục và cao độ thì chúng ta có thể kích hoạt được những nguồn năng lượng vốn có của thế giới tự nhiên hoạt động. Người ta tin rằng cách tập trung này có thể tạo ra những thực thể sống, đúng theo hình dáng có trong tư tưởng.

Như mọi người đều biết, Mật giáo Tây Tạng là biến thể của Phật Giáo. Đó là sự pha trộn với các tin ngưỡng vốn có của địa phương, do đó số Thần Linh vô cùng phong phú và đa dạng. Cụ thể là không ai dám đoán chắc là số lượng của các vị Thần hiện hữu trong các Đàn Pháp là bao nhiêu!

Tây Tạng là một trong những nhà phát minh ra Mandala, từ các hình thức đơn giản như các vòng tròn, cho đến những Đàn Pháp cực kỳ phức tạp: Chân ngôn, Ấn, Công năng … Tuy nhiên nếu xét cho cùng, thì đây cũng chỉ là một công cụ, một phương tiện, một đối tượng để Quán Tưởng trong lúc tu Thiền Định. Chính công cụ này làm cho các tu sĩ Tây Tạng nổi tiếng khắp thế giới và đồng thời các Đàn Pháp của họ cũng gây được sự tò mò chú ý của tất cả mọi người. Không thiếu gì những tài liệu chuyên đề nói về vấn đề Đàn Pháp của Tây Tạng. Chúng ta thử tìm hiểu Đàn Pháp thực sự có tác dụng như thế nào.

Thật vậy, nhờ vào các chi tiết quá phức tạp của Đàn Pháp phải thực hiện cùng một lúc, nên làm cho các giác quan của một người tu Thiền Định trở nên quá tải. Họ làm nhiều việc cùng lúc, nào là phải nhớ các Chân Ngôn bằng những từ ngữ kỳ lạ, đôi khi rất dài rất khó nhớ, có nghĩa là ý thức của con người phải tập trung cao độ để đưa trí nhớ về các từ ngữ kỳ lạ này từ tiềm thức lên ý thức. Công việc này hết sức là căng thẳng cho ý thức. Mặt khác, thính giác lại phải cố gắng nghe được âm thanh của các từ ngữ này. Đồng thời song song với việc này, thì thị giác phải hình dung ra được hình dáng như thật của cái Ấn mà mình đang kết. Chưa hết còn phải hình dung ra được từng chi tiết của Vị Chủ Chân Ngôn. 

Các giác quan của con người nếu phải làm những công việc như trên thì nó sẽ trở nên quá tải. Tất nhiên ý thức, dù không muốn cũng bị lu mờ đi vì gánh nặng nó đang chịu đựng. Công việc chưa dừng ở đây, kịch bản như vừa mô tả ở trên chưa chấm dứt, thì kịch bản mới, với những yếu tố mới: Chân Ngôn, Ấn, Công năng, ... lại bắt đầu. Do đó, việc làm mất đi ý thức bình thường của con người là việc tất yếu phải xảy ra. Nói một cách khác, con người rơi vào trạng thái Nhập Định một cách tự động, máy móc. Chẳng cần đòi hỏi một kiến thức khó khăn nào cả. Do đó, chúng ta thấy những vị nhập Thất cũng chẳng cần có tư chất thông minh hơn người. Thật vậy, các diễn tiến của Đàn Pháp đã trải qua ba cái Tâm cơ bản là: Ði tìm đối tượng "Tầm", duy trì việc đi tìm đối tượng "Tứ", chỉ có một cái tâm "Nhất Tâm". Ðây chính là những Tâm cơ bản, là nền móng của Kỹ Thuật Thiền Định mà Vi Diệu Pháp đã đề cập đến.

Phần trình bày này đối với những quí vị nào thực sự tu Thiền Định, thì sẽ thấy được sự lợi hại của nó và phát hiện ra tính chất tích cực của Đàn Pháp Tây Tạng. Chính trong việc định tâm một cách vững chắc của Đàn Pháp Tây Tạng sẽ dẫn đến An Chỉ Tâm. Đây chính là cơ sở của các khả năng tiên tri, thần giao cách cảm …

Nhờ vào An Chỉ Tâm do Đàn Pháp tạo ra, người tu Thiền Định sẽ có cấu tạo Tâm tương thích với những Cảnh Giới phù hợp với mình. Do đó họ gặp được các Vị Hộ mình, đây là một giai đoạn thay đổi quan trọng trong đời tu Thiền Định. Các Vị Hộ người tu Thiền Định sẽ chỉ bảo các Kỹ Thuật để cải tiến việc tu hành. Đó là một vị Thầy, một đồng nghiệp, một người bạn, thậm chí là một người bạn đời; nghĩa là người tu Thiền Định đã có một gia đình ở Cảnh Giới khác, không rắc rối như cảnh gia đình ở thế gian. Dù Mũ Đỏ hay Mũ Vàng, họ đều tôn trọng việc trì Giới, kỷ luật bản thân. Do đó họ không bị các Thực Thể nhập, như hay xảy ra tại Việt Nam. Tóm lại, họ đã tu theo đặc thù của Tây Tạng.

SAO MAI:


Trời lạnh quá chị HHN ơi, mình ghé vào Tĩnh Tâm Trà Quán uống ly trà nóng nhe chị. Chị phải uống thêm vitamin C nữa đó cho nó tăng sức đề kháng nhen!. Nếu chị mà bị cảm lạnh là khổ lắm đó.

Thursday, May 8, 2014



SAO MAI says:

Cho dù chúng ta đang ở thế kỷ 21, nhưng có thể nói đây là một vấn đề mang tính chất vô vọng từ tiên đề! Từ thuở xa xưa, con người đã tìm đủ mọi cách để có thể trường sinh bất tử. Tần Thủy Hoàng từng phái thuộc cấp của mình đi tìm thuốc trường sinh. Và tất nhiên là không tìm được rồi. Do đó, đám thuộc hạ của ông không dám trở về. Những người theo đạo Lão, cũng có một hệ phái nào đó luyện thuốc trường sinh. Việc này có thành công hay không thì không ai biết; nhưng thực tế chúng ta chẳng thấy ai sống mãi mà không chết cả. Nói tóm lại, đây là một câu hỏi có lẽ không bao giờ có câu trả lời, vì nó đi ngược lại với quy luật của thế giới khách quan tự nhiên. Khoa học hiện đại cũng như tôn giáo, ít nhất ở điểm này cùng có một mẫu số chung là không có gì có thể tồn tại mãi mãi. Vạn vật biến chuyển không ngừng. Hiện tượng rối loạn ở một hệ nào đó càng ngày càng gia tăng. Do đó, việc con người chết đi là một điều không thể tránh được, mà em tin chắc rằng có lẽ ai cũng biết như vậy cả! Nó là một sự thật mà mọi người đều muốn tránh né, không muốn biết đến. Nhưng chị HHN à! Liệu chị có thấy ai trong lịch sử của loài người có khả năng tự ra đi trước khi có sự can thiệp của thần chết không?

HHN says:

Tất nhiên việc này xảy ra quá lâu rồi. Không thể có những thông tin độc lập để xác minh là việc này có thật hay không. Theo truyền thuyết thì có một vị là Sakya Muni (Thích Ca Mâu Ni) đã tự bỏ xác vật lý ra đi. Ngài đã sử dụng kỹ thuật thiền định để thực hiện việc này. Trong thế kỷ 20 vừa rồi, cũng có một số người Tây phương nói lại việc này trong các tập hồi kí của mình về những sự việc ở bên Ấn Độ. Theo họ, có một số vị tu sĩ trước khi chết đã triệu tập những người quen biết tới, mời mọc mọi người ăn uống, rồi nói những lời từ giã. Sau khi nói lời từ giã, họ sử dụng kỹ thuật thiền định để bỏ lại thân xác thế gian. Nói theo giới truyền thông ngày hôm nay, chúng ta không có những thông tin độc lập, để xác minh các mẩu truyện nói trên.

SAO MAI says:

Theo em hiểu, thì bình thường khi con người sinh sống ai cũng như ai - họ đều phó mặc cho định mệnh. Nói đúng hơn là phó mặc số mệnh của mình cho thần chết; chẳng có một thái độ tích cực nào cả. Thường thường thì khi đau bệnh họ tìm cách chữa chạy bằng y khoa hiện đại. Nếu gặp bệnh nan y thì đành quay về y học cổ truyền song song với việc van vái cầu xin, cúng tế, dâng lễ, v.v. Đứng trước cái chết, họ phó mặc cho các giáo sĩ của các tôn giáo, bảo sao thì làm vậy! Em thấy rõ ràng là một thái độ tiêu cực! Thực tế mà nói, chính những Nhà Tôn giáo đứng ra làm thủ tục này cũng sợ hãi cái chết như ai! Em có một người bạn là một bác sĩ, và từng được nghe chị đó có kể lại rằng: chị được chứng kiến rất nhiều Vị đứng đầu những tổ chức tôn giáo lớn, có thu nhập rất cao, và có số tín đồ vô cùng đông đảo. Đến khi được chẩn bệnh là lâm trọng bệnh thì họ hốt hoảng sợ hãi, thậm chí là gần ngất xỉu. Theo lời chị bác sĩ nói trên thì khi thấy hiện tượng này xảy ra, chị ấy vô cùng thất vọng. Khi Vị này còn khỏe mạnh, vị đó khuyên chị là: thân xác chỉ là chiếc áo, nay thay, mai đổi, không có gì là quan trọng cả! Các bác sĩ chăm sóc cho vị nói trên nói rằng Vị này có một chiếc áo gọi là “Hoàng bào”! Em không hề có ý định hạ thấp uy tín của ai cả, em chỉ mong muốn trình bày một thực trạng mà chúng ta nên biết. Vì sự thật nó là như thế đó.

Tuy nhiên, chị HHN à! Em thấy thậm chí thấy trong cả tài liệu Tử Thư Tây Tạng (Bardo Thodol) cũng bàn về diễn tiến của cái chết với một thời gian thật là khủng khiếp. Nó kéo dài nhiều chục ngày, bị đủ các loại thực thể dày vò, hành hạ. Vẫn theo tài liệu này thì từ lúc chết đi cho đến khi đầu thai, họ vẫn luôn luôn đặt ra vấn đề “thiền định”. Em xin phép trích nguyên bản một số câu sau đây:

“ Hỡi ôi, giờ đây xuất hiện thân chung ấm (Bardo) của cái sẽ trở thành. Tôi sẽ tập trung tâm trí vào một vật duy nhất… và cố kéo dài sức mạnh thiện nghiệp của tôi…”

Chị HHN cùng quí độc giả à! Những ai đó mà quan tâm tới bộ môn thiền định, thì chắc chắn không lạ gì công thức bất tử của trường phái thiền định là “ Tập trung tâm trí vào một vật duy nhất”. Lời phát biểu vừa rồi chính là chân ngôn thiền định của trường phái Phật giáo nguyên thủy và Raja Yoga. Nay chúng ta lại tìm thấy câu nói này trong Tử Thư Tây Tạng. Chị HHN à! Phải chăng đây là một sự trùng hợp ngẫu nhiên?

HHN says:

Nếu xem toàn bộ cuốn Tử Thư Tây Tạng, chắc chắn ai đó có một số kiến thức về trường phái Phật giáo, thì sẽ thấy đây là một sự trộn lẫn của trường phái nguyên thủy và trường phái đại thừa. Chúng ta có thể đơn cử những bằng cớ cụ thể nói sau: trong tài liệu này luôn luôn nhắc tới vấn đề thiền định. Thiền định ở đây dựa vào cơ sở là câu phát biểu nói trên, xin phép được nhắc lại “ Chú tâm vào một vật duy nhất”. Nhưng song song với việc này, chúng ta lại thấy sự xuất hiện của rất nhiều các vị Phật của trường phái đại thừa. Chúng ta phải hiểu như thế nào đây? Những vị Phật này xuất hiện từ nền Phật giáo Trung Quốc, nhưng nay lại xuất hiện trong Tử thư của người Tây Tạng. Phải chăng những vị Phật này chỉ mang tính chất biểu tượng? Chúng ta có thể hiểu như thế này, tôn giáo nào cũng nói đến lòng thương yêu mọi người, và người ta hay dùng biểu tượng người mẹ. Do đó, Công giáo thì có Đức mẹ Maria hằng cứu giúp; Phật giáo có Quán Âm Tự Tại, Phật mẫu Kara, Phật mẫu Tara…Có thể đó là một lối giải thích.

SAO MAI says:

Chị HHN ạ! Liệu bộ môn thiền định có thể là một chiếc phao cứu sinh, là vị cứu tinh thực sự cho nhân loại; là công cụ khắc tinh của thần chết? Em muốn biết thực tế liệu có hy vọng gì với bộ môn này.

Em thấy có quí độc giả cho là tu tập cái gì thì tu, trường phái nào cũng vậy, phải đợi đến khi mình chết đi mới biết kết quả thực tế của việc tu hành của mình! Đúng đó, em thấy có một vị nói như vậy đó.

HHN says:

Người ta có thể nghĩ rằng đây là một thái độ có lẽ tiêu cực. Thật vậy, tập luyện cái gì đó mà chẳng có gì để kiểm chứng, và lại phải đợi đến lúc mình chết đi, cụ thể là không còn thân xác vật lý, thì mới biết kết quả. Người ta có thể e ngại là cách tính toàn này quá nhiều may rủi. Vâng, nếu mọi việc diễn tiến tích cực sau khi chết thì chẳng nói làm gì! Nhưng  diễn tiến lại trở nên tiêu cực với những kịch bản thật đáng sợ. Ví như kéo dài thời gian rất lâu tới 49 ngày thì phải, thì chúng ta không còn cơ hội để sửa sang những sai lầm nữa. Số phận chúng ta hoàn toàn bị động, lành ít dữ nhiều. Theo như tài liệu Tử Thư, thì chúng ta phải sử dụng kỹ thuật thiền định, nhằm cải tiến tình hình quá xấu lúc bấy giờ của một người vừa chết đi. Việc này nếu nói một cách hài hước thì phải bảo là “nằm mơ trong lúc đang thức tỉnh!” Vâng, việc này hoàn toàn không thể thực hiện được. Kể cả một đời sống của một người bình thường; cho dù chúng ta tập tu thiền định cũng chưa chắc đã định được; nói gì đến lúc ở trong tình trạng bối rối này của cái thân trung ấm với hoàn cảnh nào là bên ngoài khó khăn, hoảng hốt, sợ hãi. Mặt khác, lại hoàn toàn không có một kinh nghiệm gì về kỹ năng thiền định, thì lời khuyên này của tài liệu Tử Thư cũng hoàn toàn bằng thừa!

SAO MAI says:

Theo chị thì mình phải làm sao nhỉ? Em nghĩ là chỉ có một cách duy nhất là làm sao đạt được những kỹ năng thiền định trong lúc mình còn đang sống. Mình phải thực sự đạt được kỹ năng này để thực hiện những kỹ thuật tương tự như người đã chết rồi hoặc cận tử.

HHN says:

Kính thưa quí độc giả!

Có lẽ đó là một sự thật! Chúng ta không có cách nào khác. Chúng ta hãy gác bỏ những tài liệu kinh sách. Em xin kể lại hai trường hợp mà em đã có cơ hội được chứng kiến về hai đối tượng một nam, một nữ khác nhau sau đây. Và hai người này đều rất am tường về bộ môn vật lý hiện đại:

Hai người này đều tập tành thiền định một cách mò mẫm trước khi họ biết đến trường phái Phật giáo nguyên thủy. Một điều cũng đáng quan tâm là một người thì ở miền Nam Việt Nam; một người thì ở Miền Bắc Việt Nam. Họ kể là họ ngồi thiền định rất lâu, khoảng hai giờ đồng hồ. Họ đều mô tả là bản thân đi ra khỏi thân xác vật lý của mình, và họ vẫn tự ý thức được về cái tôi của mình. Họ đi hết nơi này đến nơi kia, các kiến thức về vật lý họ không hề mất đi trong lúc tạm gọi là xuất hồn. Thông tin vừa rồi tất nhiên là không thể kiểm chứng được. Tuy nhiên, dường như bộ môn thiền định này đối với hai người nói trên - có thể làm cho con người thoát ra khỏi thân xác vật lý một cách thụ động. Nhưng nếu chúng ta sở đắc được những kiến thức kỹ thuật thực tế, thì rất có thể chúng ta chủ động bỏ được thân xác vật lý. Nói một cách khác, chúng ta có thể tách con người chúng ta một cách chủ động ra nhiều thành phần khác nhau. Theo ngôn ngữ bình dân mà nói thì gọi là hồn và xác.

SAO MAI says:

Cứ cho là lập luận của chị có thể đúng. Vậy em có thể hỏi chị là có cơ sở lý thuyết gì để giải thích hiện tượng nói trên, nếu hiện tượng này là một hiện tượng của thế giới khách quan tự nhiên không? Em còn nhớ những tu sĩ Tây Tạng thường cho là theo họ thì chẳng có gì là phép lạ cả! Vẫn theo họ, thì một số người đã có được những kiến thức chuyên môn nhằm khai thác, ứng dụng những quy luật của thế giới khách quan tự nhiên. Em nghĩ quan điểm này họ nói có lẽ cũng đúng. Chúng ta có một hướng của khoa học tự nhiên. Ai bảo là trên đời này không có những hướng khoa học khác của thế giới tự nhiên? Biết đâu có thể đây là chiều hướng khoa học của tương lai?!

HHN says:

Đúng như em nói! Chúng ta không có một lý thuyết khoa học nào để có thể giải thích những hiện tượng nói trên. Hay nói đúng hơn, chị không biết có lý thuyết khoa học nào giải thích hiện tượng nói trên. Tuy nhiên, nếu coi tài liệu Vi Diệu Pháp là một chủ thuyết, thì hiện tượng nói trên hoàn toàn có thể giải thích được. Những gì sắp sửa thuyết minh sau đây chắc chắn sẽ khó khăn cho những ai đó thiếu thông tin về tài liệu Vi Diệu Pháp. Thực tế nếu không hiểu về Vi Diệu Pháp thì sẽ không hiểu gì cả. Em xin lỗi trước nếu quí độc giả không hiểu thì cũng không phải là một điều gì đáng ngạc nhiên. Tài liệu này có thể cho là cũng khó hiểu không khác gì những lý thuyết của vật lý.

Theo như tài liệu này thì con người là sự tập hợp của một số yếu tố vô cùng quen thuộc với những người am tường trường phái phật giáo nguyên thủy: sắc, thọ, v.v…. Kỹ thuật thiền định đã diễn tiến như thế nào?

1.     Một con người bình thường thì có sự tương thích, hay nói cách khác là nó có sự thích hợp giữa vật chất và tinh thần. Cụ thể là, ở cảnh giới chúng ta đang sống gọi là Dục giới. Ở cảnh Dục giới, vật chất phải có vài chục yếu tố; tinh thần gọi là tâm thì phải có vài trăm yếu tố. Ngoài ra, còn phải kể tới sức mạnh của nghiệp, thường gọi là nghiệp lực…. Con người tồn tại vì những yếu tố kể trên thích hợp với nhau.

2.     Đến khi tu thiền định thì bất kể trường phái nào - nếu thực sự đạt được những thành tích, thì những yếu tố kể trên không còn thích hợp với nhau. Cụ thể là, thân xác vật lý vẫn còn nguyên vẹn mấy chục yếu tố; trong khi tâm thì từ mấy trăm yếu tố, nay chỉ còn vài chục hay vài yếu tố. Quí vị thấy đó, thân và tâm có một sự lệch lạc, không còn thích hợp với nhau trong lúc người tu thiền định định tâm. Chính vì lý do này, dù không muốn thì phần tâm cũng phải ra đi. Ngôn ngữ bình dân gọi là xuất hồn. Dù chẳng muốn xuất hồn, thì hiện tượng xuất hồn vẫn cứ xảy ra!

SAO MAI says:

Em thấy chị giải thích cũng khá dễ hiểu, cũng chẳng có gì là cao siêu, ghê gớm cả. Mặt khác, nghe có vẻ cũng hợp lý là đằng khác! Nhưng chị ạ, cứ cho rằng chúng ta sở đắc được kỹ thuật này, thì nó giúp gì cho chúng ta khi chết?

HHN says:

Đây chính là chìa khóa của vấn đề! Thật vậy, chủ động làm cho thân và tâm có thể tách ra được một cách chủ động, đó chính là một hình thức chúng ta làm quen với cái chết. Nói một cách khác, chúng ta tự tạo ra một cái chết chủ động theo ý mình muốn. Ít nhất chúng ta  tránh được trường hợp bị chết không mong muốn. Một số người theo trường phái Phật giáo thường hay coi thường thao tác này. Tuy nhiên, thao tác này không phải là một thao tác dễ gì mà có được. Thao tác này rất có ý nghĩa.

1.     Trong khi tu thiền định, nó là cơ sở để tập luyện những lớp thiền định cao hơn, chỉ kể từ sơ thiền trở đi mà thôi. Thật vậy, nếu chúng ta giữ thân xác thế gian cộng với phần tâm Dục giới, thì không thích hợp với sơ thiền hữu sắc. Thật vậy, ở Sơ thiền hữu sắc, thân không còn những yếu tố như trước nữa, phải giảm đi rất nhiều. Do đó, nếu nói là vẫn giữ thân xác Dục giới mà lại đắc sơ thiền hữu sắc, thì mâu thuẫn sâu sắc với tiên đề! Phải nói là không thể hiểu được, vì nó vô lý trên nguyên tắc!

2.     Cứ cho là tài liệu Tử Thư có thật, thì kinh nghiệm về định tâm của kỹ thuật thiền định thật là quý giá cho cảnh trung ấm thân!

3.     Muốn tiến đến mục đích mà Phật giáo thường nói tới là giải thoát, thì chính bản thân Sakya Muni cũng phải tu thiền định. Và chính kỹ thuật này đã đưa đến sự trí tuệ.

SAO MAI says:

Em có thể kết luận như sau: “Trường phái Phật giáo mà mất đi thiền định, thì phải bảo là đã mất đi linh hồn của mình!”

Xin kính chào toàn thể quí độc giả!




Wednesday, May 7, 2014



 

Tập 11: Tm quan trng ca Vi Diu Pháp 
trong Thin Đnh

Đoàn người tu thiền định tiến sâu vào vùng rừng núi mịt mù. Trước mặt họ là thác nước hùng vĩ từ trên núi cao đổ xuống ầm ầm, những hạt nước li ti văng tung tóe trắng xóa. Rừng cây nhiều màu lá, chim muông ríu rít chuyền cành, nắng vàng rực rỡ. Tất cả hòa vào nhau như một bức tranh sống động. Tiếng nước róc rách bên khe núi, tiếng chim, tiếng gió tạo thành một bản giao hưởng của thiên nhiên.

SAO MAI:

Chị HHN à, em nghe nói: Đọc "Chú" có thể giúp mở Con Mắt Thứ Ba. Điều đó thực hư ra sao vậy chị?

HHN:

Theo những thông tin của cuốn sách bửu bối thì ngoài Kỹ Thuật Thiền Định, người ta chưa phát hiện ra được những Kỹ Thuật tập luyện khác, thí dụ như: Tụng kinh, đọc Chú, Niệm Danh Hiệu của một Vị nào đó … có khả năng mở được Đệ Tam Nhãn. Trên thế giới, không ai dám khẳng định mình có đầy đủ thông tin về vấn đề này.

Riêng ở Việt Nam, cách đây đã khá lâu, người ta đồn có một số vị mở được Huệ Nhãn (nói theo từ ngữ miền Nam). Có một mẫu số chung đáng để ý là tất cả các vị này đều tu Thiền Định. Tuy các Trường phái Thiền có khác nhau, nhưng cũng chỉ là tu Thiền Định. Cuốn Tạp Thư khẳng định như thế đó Cô. Ở Ðại Ninh, Lâm Ðồng có Vị, người ta gọi là thầy TT. Ở vùng Long Thành Bà Rịa có thầy TS, ở Sài Gòn có ông 6L … Ngoài ra còn có những vị khác nữa, họ thường sống ẩn cư, họ sống vài ba người, rất ít gặp ai, hiện tại những vị này đã mất cả rồi.


SAO MAI:

Tiếc quá, chị ạ! Nếu họ còn sống, em cũng muốn đến thăm họ. Biết đâu ở vùng rừng núi như thế này, cũng có Vị ẩn cư thì sao!

HHN:

Cũng có thể như vậy lắm chứ. Mà Sao Mai này, em nên nhớ lại những bài viết trước. Em cần phải biết cách phân biệt những hiện tượng tương tự như Đệ Tam Nhãn và Đệ Tam Nhãn thực sự. Ai đó có thể biết được Quá Khứ Vị Lai, chưa có nghĩa là họ có Đệ Tam Nhãn.

Ðan cử một trường hợp để em nghe nhé: Có một vị ở Ðà Lạt, ông ta nổi tiếng trong nhiều chục năm, về một số khả năng sau đây. Khách đến nhờ vả ông đầy nhà, ông vui thì tiếp, buồn thì ông đuổi người ta về. Đặc biệt nhất ông ghét phụ nữ hút thuốc lá (lúc này người ta còn hút thuốc là khá phổ thông, do đó việc hút thuốc lá không phải là lạ). Khi khách bước vào ông hỏi tên người đó là gì, thí dụ tên là Uyên, thì ông đã viết chữ U vào lòng bàn tay trước khi người đó trả lời, sau đó ông mở bàn tay ra và hỏi có đúng không. Gần như không bao giờ sai cả. Ông có khả năng nói về hai vấn đề, một là mất mát tài sản của cải, hai là liên quan đến chuyện gia đạo, vợ lớn vợ bé ... Ông có thể mô tả chính xác một căn nhà khách đang ở quận 1 tại Sài Gòn, kể cả chuyện cô đang làm việc gì ở đâu. Đặc biệt nhất là những câu chuyện gia đạo phức tạp rắc rối, cũng như các chuyên án về mất mát tài sản. Ngoài khả năng của hai việc này ra, thì ông bất lực trong việc tiên đoán về tương lai.


SAO MAI:

Việc  này em cũng thắc mắc lắm! Em nghĩ rằng ai mà biết được chuyện Quá khứ, Hiện tại, thì cũng có khả năng biết về Tương lai mới đúng chứ, phải không chị HHN?

HHN:

Theo quan điểm của người tu Thiền Định, thì họ có thể giải thích hiện tượng nói trên một cách dễ dàng. Chính người tu Thiền cũng có người có khả năng như thế. Thậm chí là những người bình thường không tu Thiền gì cả, mà cụ thể người bình dân gọi Đồng Cô, Bóng Cậu … cũng có thể có khả năng này. Đây là hiện tượng gọi nôm na là Linh hồn hay Vong linh của người chết hay Thực Thể nào đó chưa xác định được, mách bảo cho các Đối tượng nói trên, có khả năng thấy biết ngoài tầm thị giác bình thường, bất chấp không gian thời gian. Họ thường cung cấp các thông tin này bằng lời nói. Barbara Ann Brennan cũng có kể như vậy trong tác phẩm “Bàn Tay Ánh Sáng”.

Nếu tĩnh tâm và có những yếu tố tương ưng nào đó, thì một Thực Thể bất kỳ, không rõ nguồn gốc, tạo ra âm thanh bên tai. Đầu tiên như tiếng rù rì nho nhỏ, kế tiếp tiếng nói này càng ngày càng rõ hơn, sau đó thành những thông tin ngắn đứt đoạn. Lâu ngày người muốn nghe và người nói, dần dà quen cách giao tiếp này, giống như người ta lập được một cầu thông tin. Trường hợp hình ảnh cũng vậy, từ những hình ảnh đơn sơ, cho đến một cuốn phim ngắn … Việc này nếu xảy ra thường xuyên, thì người nhận được thông tin, cũng phải trả giá thuê bao giống như thuê bao internet hay ti vi hữu tuyến. Ðẳng cấp hơn nữa, Thực Thể nói trên đưa ra cách chữa bệnh, và chỉ với vài động tác đơn giản là khỏi bệnh. Trước mắt người đời, vị này trở thành con người đặc biệt … Tất nhiên sự việc này cũng không thoát ra khỏi định luật Nhân Quả, không thoát ra khỏi nguyên lý Bảo Toàn Năng Lượng. Tự nhiên không thể khỏi bệnh được, cũng như trên đời không có cái máy vĩnh cửu, vì nó vi phạm quy luật của Thế giới Khách quan Tự nhiên.

Định luật trời đất là có "Vay" thì có "Trả". Mãi đến hôm nay, cũng chưa có nhà Khoa học nào viết ra được những ký hiệu, những phương trình khắc nghiệt về Định luật này, những món nợ nần vay mượn mà con người không hiểu rõ phải trả giá. Vay một Trả mười là như vậy đó. Nôm na thì người ta gọi đó là những người bị "mượn xác" hay bị "nhập". Họ sinh hoạt không bình thường. Trong lúc bị nhập (in full Action), họ ăn uống một số lượng đồ ăn nhiều không thể tưởng tượng nổi. Ðiều rất lạ là sau khi họ trở lại tình trạng bình thường, họ vẫn bị đói! Sao Mai nghĩ xem, ăn nhiều vậy mà họ vẫn không bị bội thực. Số lượng đồ ăn vừa ăn xong cách đây ít phút làm sao mà có thể chuyển hóa kịp. Những người này không phải là một ảo thuật gia đâu. Họ có thể chỉ là một phụ nữ miền quê khá đơn sơ. Cách ứng xử của những người này không bình thường. Thân thể bạc nhược, rất hay bệnh hoạn. Càng lớn tuổi càng đau rất nặng mà không rõ nguyên nhân. Tính khí rất bất thường. Họ có gia đình, ngủ ban ngày, đêm đến mới bắt đầu thức giấc, ăn uống, vệ sinh, làm việc, sắp sáng lại ngủ. Họ vui buồn không thể đoán trước, đang thân thiết bỗng dưng trở nên lạt lẽo. Con người họ vật vờ, có lẽ đó chính là cái giá của việc sử dụng tha lực.

Người tu Thiền Định thì lại hoàn toàn khác. Dù Trường phái nào, như ở Tây Tạng chẳng hạn. Chẳng kể mũ đỏ hay mũ vàng, họ đều phải tôn trọng kỷ luật bản thân, thanh quy giữ Giới, chăm chỉ Tham Thiền Nhập Định, vì ai cũng biết chính Chánh Định đã sanh ra Huệ. Nói một cách khác, Huệ hay Tuệ là hệ quả của Định lực do chính mình tạo ra. Với tài liệu Vi Diệu Pháp làm nền móng cho cơ sở Kỹ thuật, người ta hoàn toàn có khả năng chứng minh được vấn đề này một cách dễ dàng. Ai cũng có thể hiểu được nếu có một lương tri lành mạnh. Trong những bài tới, với đề tài mà chúng ta đang tìm hiểu về Con Mắt Thứ Ba, sẽ được triển khai, Khảo cứu một cách nghiêm túc trên tinh thần Kỹ thuật của Vi Diệu Pháp.

SAO MAI:

Em  không ngờ vấn đề Con Mắt Thứ Ba lại rắc rối như vậy! Cách phân biệt cũng rất khó thật! Em nghĩ chẳng phải mình em, mà các quý độc giả có ý định tập luyện cũng đâm ra lo lắng khi nghe chị nói như thế.

HHN:

Sao Mai ạ! Có một công thức vô cùng đơn giản, em còn nhớ không? Dân gian thường nói: “Ðạo đức trọng, quỷ thần kinh”. Người tu Trì giới kiên cố, đó là công thức bất tử “Giới, Định, Huệ”. Việc này hoàn toàn có thể trị được bệnh ma nhập, Ngũ Ấm Ma. Bảo đảm với em rằng công thức này là loại thuốc trụ sinh có phổ rộng, đến nay vẫn chưa lờn thuốc … Ma nào cũng trị được, hung thần ác quỷ đều phải lánh xa. Em cứ tin chị đi! Nếu tu Thiền Định mà giữ gìn kỷ luật bản thân, chịu khó Tham Thiền Nhập Định, thì việc mở Con Mắt Thứ Ba là hệ quả tất yếu. Chỉ có điều là không biết lúc nào thôi. Một, hai, ba kiếp; hay cũng có thể là ngàn kiếp sau.

SAO MAI:

Ôi, chị HHN ơi, nghe chị nói vậy mà em thấy nản quá! Chị ráng xem thử có cách nào không cần Thiền Định cũng mở Nhãn được không? Thiền thì em không có thời gian, mà còn nghe chị nói chờ ngàn kiếp sau nữa thì đúng là “trên cả tuyệt vời!”. Nhưng chị khoan mừng nghe, trên tuyệt ... vời là tuyệt ... vọng đó chị ơi.

HHN:

Theo thông tin đại chúng ở trong cuốn Bửu Bối, thì đâu đó trên khắp thế giới cũng có những người tiên đoán được Quá khứ Vị lai. Đặc điểm nói chung là họ đều thực hành Thiền Định ở các Trường Phái khác nhau. Nhưng cũng phải kể đến trường hợp như bà Vanga, hay Nostra Damus  thì lại không nghe thấy tiểu sử kể về việc tu Thiền Định. Biết đâu họ từng tu Thiền Định ở những kiếp trước nếu chúng ta tin là có Luân Hồi Sanh Tử, có đầu thai, có tái sanh. Tin hay không thì đó là quyền riêng của Sao Mai và quý độc giả.
 
Nếu căn cứ vào Vi Diệu Pháp thì chỉ có con đường duy nhất, chỉ có một Kỹ Thuật duy nhất là làm sao tạo được An Chỉ Tâm. Chính ở trong giai đoạn An Chỉ Tâm này thì Đệ Tam Nhãn xuất hiện. Vấn đề này chúng ta sẽ quay lại khi đề cập tới vấn đề Tâm. Vấn đề Luồng Tâm Thức, các loại Tâm Thức, sự xuất hiện của Thần Thông (Đệ Tam Nhãn là một yếu tố của các loại Thần Thông), các loại Định, các loại Cảnh Giới tương ưng … là một vấn đề có lẽ phải gọi là xương sống của đề tài. Nếu hiểu được vấn đề này thì mọi việc sẽ giải quyết được hết, chẳng có gì là bí mật cả. Cái khó là các khái niệm, các tư tưởng, hiện tượng … được đề cập trong Vi Diệu Pháp thì lại không thuộc về Cảnh Giới mà con người đang sống. Do đó, cho dù là Khoa học gia uyên bác hoặc các Triết gia sâu sắc với vô vàn khả năng tưởng tượng phong phú, cũng khó có thể hiểu được. Nó là những vấn đề không thuộc về Hệ Quy Chiếu mà con người chúng ta đang hiện hữu. Rất cần phải có một trình độ Thực Chứng về Thiền Định nào đó, thì mới có thể khái niệm được, hình dung được những điều được trình bày trong Vi Diệu Pháp (VDP). Rất có thể vì lý do này mà tài liệu VDP đã tồn tại song song với lịch sử con người qua nhiều thế kỷ, nhưng nó vẫn là kho tàng bị bỏ quên, đang ở trạng thái phân hủy và sẽ biến mất với thời gian vì không ai bảo trì, chăm sóc. Chờ đến lúc được phục chế thì có lẽ đã quá chậm. Thực vậy, tài liệu này cũng chẳng được các nhà Tôn Giáo quan tâm, cũng chẳng được các Khoa Học Gia để ý tới. Nó có vẻ như một Tài liệu Vô tư và không hữu duyên với nhân loại.

SAO MAI:

Em cũng có nghe tới tài liệu này và cũng có mua vài cuốn, đọc thử chơi. Sau đó do không hiểu nên tôi ráng đọc nhiều ngày, đọc nhiều tháng nhiều năm. Nhưng em hỏi chị này, thật ra VDP nói cái gì ở trong đó hả chị? Nào là Tâm, nào là Sắc, nào là các Công án của các loại Thiền Định … Những khi dừng chân ở những thành phố lớn, em vào Siêu thị để shopping và hỏi mấy người bán hàng để mua một số: Tâm, Sắc, Công án … nhưng không đâu bán cả. Vậy thì mình phải làm cách nào hả chị?
 
HHN:

Căn cứ vào phần trình bày lúc nãy, chúng ta thử khảo cứu về tiến trình tu Thiền Định của Phật Giáo Nguyên Thủy nhé Sao Mai. Rất có thể em và quý vị độc giả, kể cả những vị đang tu chuyên nghiệp đều không ngờ rằng, nó có rất nhiều giai đoạn, phân khúc. Những giai đoạn này nó nhiều hơn chúng ta tưởng rất nhiều. Nếu ai đó chịu bỏ công nghiên cứu và thực hành thì chúng ta phải chấp nhận mất một đời người! Chắc quý vị còn nhớ tu sĩ khả kính Thích Minh Châu từng tiết lộ cho biết là Ngài chấp nhận việc biên soạn tài liệu VDP, cố gắng trung thực nhất, chính xác nhất với những tài liệu Nguyên Thủy và để lại cho thế hệ mai sau. Vì bận rộn công việc này, vì sự hy sinh cho thế hệ mai sau để có những tài liệu đáng tin cậy, Ngài đã đành hy sinh công việc Tham Thiền Nhập Định của mình.

SAO MAI:

Đúng là một sự hy sinh lớn lao cho Phật Pháp được trường tồn trên thế gian phải không chị? Chị cho em hỏi là nếu mình không học VDP thì có thể thực hành Thiền Định và mở được Con Mắt Thứ Ba không chị?

HHN:

Chúng ta thử nêu ra những bước cơ bản sau đây của tiến trình Thiền Định:

1. Cận Định.
2. Dục Giới Ðịnh.
3. Sắc Giới Ðịnh.
4. Vô Tưởng Ðịnh.
5. Vô Sắc Ðịnh.
6. Diệt Thọ Tưởng Định.


Ðây chỉ là những giai đoạn cơ bản. Trên thực tế thì những chi tiết nhiều hơn rất nhiều, sự thật không thể kể hết được. Nếu thực hành Thiền Định mà hiểu rõ Vi Diệu Pháp thì đỡ vất vả chông gai và vấn đề sẽ hoàn toàn khác hẳn. Do đó, nếu sợ khó sợ khổ mà lại tu Thiền Định khi không nghiên cứu về Vi Diệu Pháp thì có lẽ tương lai là cả một thách thức!

SAO MAI:

 À! ra vậy, nhưng mà mình có thầy hướng dẫn tu mà. Lo gì chứ chị.

HHN:

Sao Mai à, nếu nói như em thì lúc nào mình cũng lệ thuộc vào ai đó. Trong quá trình tập luyện thì chắc chắn phải phát sinh những thuận lợi cũng như khó khăn mà mình không hiểu tại sao. Lúc đó phải nhờ đến ai đó mà ta gọi là Thầy, đó là điều hợp lý. Nhưng em cần suy nghĩ thêm điều này: Có khả năng là chính vị Thầy mà chúng ta nhờ cậy, họ cũng chẳng hiểu biết gì hơn chúng ta cả. Họ trả lời một cách tự phát không dựa trên một cơ sở chính quy đáng tin cậy. Đó chỉ là suy luận cá nhân cảm quan của riêng vị Thầy đó. Thế là chúng ta rơi vào một tình huống đầy tính chất mạo hiểm và phiêu lưu hoàn toàn không đáng có! 

SAO MAI:

Đúng rồi chị ơi, em cũng thấy có một số người và trong đó có em cũng có nhiều lần lâm vào tình trạng này. Có thể em chưa tìm được  đúng thầy. Em  không thỏa mãn với những gì Thầy của em dạy tôi nên em cứ tiếp tục tìm kiếm đến tận bây giờ đó. Vậy bây giờ phải làm sao hả chị?

HHN (mỉm cười nhân hậu):

Sao Mai cũng như quý độc giả chắc chắn còn nhớ chuyện này. Lúc Sakya Muni khi sắp bỏ xác ở thế gian, mọi người hỏi rằng sau này ai là Thầy của họ. Sakya Muni đã trả lời rằng: “Chánh pháp là Thầy của mọi người”.

Nói một cách bình dân, thì người ta có thể hiểu như thế này: Sau khi Phật nhập Niết Bàn, thì sự hiểu biết chân chánh sẽ là Thầy của muôn loài. Tuy nhiên trên thực tế, dường như có một số vị ở trong trường phái của Sakya Muni tự xưng mình là Thầy. Dường như người ta đã quên mất rằng lời nói của Sakya Muni mang nặng tính chất khoa học. Lời nhắn nhủ trên là biểu tượng của sự Minh Triết và phù hợp với tri thức luận lành mạnh của một con người bình thường như bạn và tôi.

Sao Mai và HHN cùng im lặng. Cô đang hồi tưởng về quá khứ. Hình ảnh Cây Bồ Đề hùng vĩ ở Bồ Đề Đạo Tràng bên xứ Ấn Độ xa xôi, nơi mà Sakya Muni đã nhập định 49 ngày hiện về. Dường như lời dạy của Ngài: “Chánh Pháp là Thầy của mọi người” đang vang vọng lại trong khu rừng nhiều gió ...