Sunday, February 16, 2014



Sao Mai says:

Như lần trước chị đã hứa với em cùng với quí độc giả, em hy vọng lần này chị sẽ trình bày một số chủ thuyết về vấn đề : cái ngã, cái tôi, linh hồn, tiểu linh quang…. Em hiểu không biết có đúng hay không, đây chỉ là vấn đề danh xưng, tùy thuộc ở trường phái tôn giáo, chủ thuyết.

HHN says:

Xin chào Sao Mai cùng toàn thể quý độc giả!

Em xin phép tiếp tục trình bày về vấn đề này. Tùy theo cách của từng trường phái công nhận sự hiện hữu của một cái tôi vĩnh hằng. Dạng trường phái này nhiều vô số kể, họ cho rằng con người là một điểm sáng nhỏ, còn Thượng Đế là một điểm sáng lớn…Em xin phép giới thiệu cùng quí độc giả về một tư liệu nói về cái ngã - từ điển wiipedia. Có thể rất nhiều quí độc giả đã biết những thông tin này thông qua wikipedia; tuy nhiên cũng có thể có những vị chưa có cơ hội đọc tài liệu này. Theo quan điểm chủ quan của em, quí độc giả có thể tham khảo tài liệu về cái ngã trong wikipedia. Đặc điểm của bài viết này là súc tích, ngắn gọn, rõ ràng… giúp cho người đọc không phải quá vất vả để tham khảo quá nhiều tài liệu. Em xin nhắc lại - quan điểm vô ngã là một quan điểm của trường phái Phật giáo.

Sau đây, em xin phép trình bày sơ lược về lịch sử và tiến trình của chủ thuyết vô ngã.

Người ta cho rằng vào thời Sakya Muni (Thích Ca Mâu Ni) tại thế đã có nhiều loại lý thuyết về tâm lý học. Có thể có hai trường phái sau đây:

-         Thuyết duy tưởng (idéalisme)
-         Thuyết duy vật (matérialisme)

Với thuyết duy tưởng, thì người  ta có một cái ngã (àtman), cái ngã này thường hằng, làm bản thể cho cái tôi. Tư tưởng này chúng ta có thể tìm thấy trong tác giả của trường phái phân tâm học Sigmund Freud. Cái ID là những phần vô tổ chức của sự cấu tạo cái tôi. Nó là nền móng của con người,  là cấu tạo duy nhất của con người, được hiện hữu từ lúc sanh ra (unorganized part of the personality structure – the only component of personality).

Với thuyết duy vật, thì lại cho rằng mọi sự vận động của tinh thần đều bắt nguồn từ vật chất. Một tác giả mà ai cũng biết trong thời cận đại cho là, mũi tiết ra nước mũi, vật chất tiết ra tinh thần. Người ta lý luận rằng nếu không có vật chất sẽ không có sự vận động tinh thần nào cả.

Đứng trước hai quan điểm nói trên, dường như Sakya Muni đã chọn con đường trung đạo, ngài phê phán cả hai chủ thuyết nói trên. Với câu hỏi khác nhau giữa vật chất và tinh thần, hình như Sakya Muni không có câu trả lời. Về tương quan giữa sắc và danh, thì ngài cho là chúng không giống cũng không khác nhau. Ngài cho rằng đó là những thực tại. Với quan điểm ngày hôm nay, thì dường như câu trả lời trên mang tính cách hàng hai.

Tài liệu trình bày  về vấn đề vô ngã của trường phái Phật giáo, có thể đúc kết vào một câu chuyện ngắn sau đây: “ Khi những bộ phận tách rời của một chiếc xe được lắp ráp vào đầy đủ thành một chiếc xe, xe lúc này được sử dụng để định danh sự hiện hữu của nó, người ta gọi nó là cái xe”. Theo quan điểm của trường phái Phật giáo, con người là sự hội đủ của 5 uẩn là: sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Vẫn theo quan điểm của Phật giáo thì 5 yếu tố vừa kể trên chẳng có yếu tố nào thường hằng cả. Do đó, khi hội đủ lại thì thành ra một sinh thể (hay chúng sinh). Có hai yếu tố để đưa đến việc kết luận là vô ngã. Yếu tố vừa được nhắc đến là 5 thành phần nói trên, không có tính cách ổn định. Mặt khác, nếu có việc hội đủ 5 yếu tố, thì cũng có việc là 5 yếu tố có thể tan rã.

Kính thưa quí độc giả cùng Sao Mai!

Cách trình bày nói trên vô cùng thô thiển! Em hy vọng rằng với lối trình bày đơn giản này, sẽ làm cho nhiều người dễ hiểu, dễ nhớ, vì em cho rằng, đây là một khái niệm khá khó hiểu của trường phái Phật giáo:

Người ta cho là Sakya Muni là người thầy của thuyết vô ngã.

Sao Mai says:

Em cũng từng được nghe và được xem người ta trình bày về thuyết vô ngã. Nhưng càng xem, càng nghe, thì hình như em càng chẳng hiểu họ nói cái gì cả. Họ trích dịch quá nhiều tài liệu, rối tinh, rối mù lên. Chị này! Em có một câu hỏi hơi “ngớ ngẩn” một chút. Em quan ngại rằng, những người đứng ra trình bày, chỉ là sao kinh, chép sách hay là chính họ cũng chẳng hiểu là cái gì cả! Em còn nhớ có một câu nói bằng tiếng Pháp ở trong nhà trường, em xin phỏng dịch ra tiếng Việt Nam “Cái gì mình sở đắc rõ ràng, thì người ta có thể giải nghĩa, giải thích một cách rõ ràng cho người khác hiểu”.

HHN says:

Rất có khả năng xảy ra như điều em nói, vì việc khảo cứu về  tài liệu của trường phái Phật giáo rất là phức tạp và khó khăn. Ngoài việc không có chữ viết, không có lịch sử, sau nhiều trăm năm sau người ta mới viết bằng tài liệu, còn phải kể đến những sự cạnh tranh của những đối thủ gần  xa của trường phái Phật giáo. Phải nói rằng là một tai họa lớn lao hơn nữa, khi các kinh ngụy tạo ra đời… Rõ ràng, việc khảo cứu để tìm hiểu một  cái gì đó trong trường phái Phật giáo, phải nói là một công việc không dễ chịu gì.

Kính thưa quí độc giả!

Người ta cho rằng vào thời Sakya Muni tại thế, xã hội Ấn Độ có công nhận một cái “thức” là trung tâm của sự sống. Một số người ủng hộ quan điểm này: thức là bất động, thức tiếp tục tồn tại sau cái chết và là tác nhân của luân hồi. Mặc dù là kiến trúc sư của lý thuyết vô ngã, nhưng Sakya Muni ở trong một số trường hợp lại công nhận sự hiện hữu của một loại thức, được coi như thành phần tiêu cực của tinh thần. Có thể tư tưởng này đã khai sinh ra luồng tâm thức, gọi là Bhavanga, luồng tâm thức này, đóng một vai trò quan trọng, chiếm giữ một chương then chốt của tài liệu Vi Diệu Pháp. Tài liệu này còn gọi là Thắng Pháp Tập Yếu Luận. Tác giả Nyanatiloka đã mô tả luồng tâm thức “nó có bản tính như một tiến trình luôn luôn trôi chảy, vô thỉ, vô chung”, biết bao nhiêu ấn tượng và kinh nghiệm được tích lũy và vận hành ngoài chủ ý. Trong quá trình vận hành này, vào một lúc nào đó, các hiện tượng của tiềm thức đã bước được vào ngưỡng cửa của ý thức và trở thành ý thức trọn vẹn. Do đó, người ta còn gọi là “Dòng tiềm thức của sự sống”. Dựa vào cơ sở này (Dòng tiềm thức của sự sống), người ta sở dĩ có thể giải thích khả năng của trí nhớ, các hiện tượng tâm lý và nghiệp luân hồi.

Rất có thể tiến trình này là khởi đầu khúc cho cảm hứng của sự xuất hiện của thuyết hữu ngã mà tài liệu "Độc Tử Bộ" gọi là “nhân thể” (pudgala).

Tư tưởng này được các nhà đại thừa cảm hứng và sáng tác ra lý thuyết Như Lai Tạng. Đó là câu trả lời cho những tôn giáo ngoại đạo. Mặt khác, khái niệm hữu ngã còn  ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến việc hình thành và phát triển của thuyết Tàng thức, a lại gia thức trong trường phái Duy Thức.

Phải nói rằng sự ra đời, hay nòi đúng hơn là sự xuất hiện của thuyết hữu ngã (pudgala), chính là chiếc phao cứu sinh cho trường phái Phật giáo. Thật vậy, chủ thuyết hữu ngã này, không cần phải có những lý thuyết, những kinh nghiệm siêu nhiên, những kiến thức xuất thế… Nó có thể cảm nhận bằng trực quan, bằng thực tế…Một con người bình thường cũng có thể trải nghiệm được kinh nghiệm của sự hiện diện của Pudgala. Trước khi đi ngủ, tôi thấy tôi là tôi; trong khi ngủ tôi có thể nằm mơ hay không; khi tỉnh dậy, tôi vẫn thấy tôi là tôi. Nếu một cái tôi không nhất quán, thì có lẽ xã hội loài người không thể tồn tại được, mà cả thế giới loài vật cũng vậy. Ta hãy tưởng tượng, một con chó lúc thức biết mình là một con chó. Việc hành xử chứng tỏ nó là một thực thể nhất quán. Chó cũng ngủ và có thể nằm mơ hay không nằm mơ như người. Nếu nằm mơ thấy mình là một con vật nào đó - giả thuyết là lúc tỉnh dậy lại không biết mình là chó, mà có thái độ hành xử như một con mèo, không trông coi nhà cửa mà đi bắt chuột. Nếu con chó có một lối hành xử như việc vừa kể trên, thì không thể làm công việc hợp tác với con người theo chiều dài của lịch sử để tồn tại. Nếu con chó mà không có một cái tôi nhất quán; hay ngược lại người mà không có một cái tôi nhất quán, thì hai bên không thể cộng sinh. Ta hãy hình dung con người tưởng mình là cọp, thì chắc chắn con chó nổi tiếng là loài vật trung thành cũng phải bỏ chạy, tìm môi trường tồn tại trong đời sống hoang dã.

Theo trường phái nhân thể luận, có nghĩa là công nhận có một cái ngã: Người ta cho rằng, có một cái tôi di trú từ kiếp này qua kiếp khác, là chủ nhân công của những loại nghiệp quả tích cực hoặc tiêu cực. Cái ngã là người chủ tạo ra nghiệp, nó là trung tâm của cái biết.

Người ta đưa ra một số luận cứ để chứng minh sự tồn tại của một cái ngã thường hằng.

Nếu công nhận lý thuyết luân hồi, thì phải có một cái ngã để kết nối những tiến trình khác nhau, trong những kiếp sống khác nhau. Nói một cách khác, nếu không có một cái tôi thường hằng, một cái tôi nay đây, mai đó, thì không thể có luân hồi.

Nếu không có một cái tôi thường hằng, thì không có chỗ nào để chứa đựng trí nhớ và sự hiểu biết? Không thiếu gì trường hợp người ta nhớ ra kiếp trước, mà đã được các tài liệu hành chính xác minh.

Nếu không có một cái tôi thường hằng, thì ai chịu trách nhiệm các nghiệp thiện, nghiệp ác.

Nếu không có một cái tôi, thì cũng chẳng có người chứng đắc, người không chứng đắc….

Tài liệu TRIDHARMAKASASTRA là một tài liệu điển hình ủng hộ chủ thuyết nhân thể.

Sao Mai says:

Đúng như chị nói, riêng trường phái Phật giáo cũng đã có những tranh luận không có lối thoát.

Em hy vọng trong những bài viết tới, xin chị vui lòng trình bày về những lý thuyết hiện đại cũng liên quan đến vấn đề cái tôi.

Trân trọng kính chào toàn thể quí độc giả!


Sao Mai

Saturday, February 15, 2014



Sao Mai says:

Em xin chào chị!

Gần đây trong trường phái Phật giáo, có một vị nào đó có đưa ra một tài liệu, dường như đề cập đến vấn đề con người ta không có linh hồn (không có một cái tôi thường hằng – lời giải thích của người viết bài này). Người ta cho rằng, đây là một tư tưởng quá mới, quá lạ! Thậm chí có người còn sửng sốt phản ứng chị ạ.  Có người thì âu lo, có người lại vui mừng…. Nói tóm lại, phải bảo là có rất nhiều những phản ứng đa chiều.

Em xin phép chị cùng quí độc giả thử đóng góp một số ý kiến, nếu có gì sai sót mong quí vị lượng thứ!

Vâng, theo em hiểu ở góc cạnh xã hội, thì có những tội phạm có lý do chính đáng để phủ nhận trách nhiệm dân sự và hình sự. Trường hợp “gia trọng” hay nói cách khác là những tình tiết tăng nặng trong việc áp dụng luật pháp xét xử trong tương lai không còn hiện hữu. Vì đơn giản là không có một người nhất quán…. Nhị trùng bản ngã, đa nhân cách?! Cũng chẳng thuộc về một dạng nào cả.  Nhưng nếu căn cứ vào những điều khoản vốn có của luật pháp, thì mình hoàn toàn vô trách nhiệm về hành vi vi phạm pháp luật của mình. Em không phải là luật gia, nên không hiểu rõ họ giải quyết ra sao trong trường hợp này. Nhưng nói tóm lại, người phạm tội có thể rửa tay (Se laver les mains), lương tâm yên ổn.

Với chủ thuyết không có một cái tôi thường hằng, nếu đứng về mặt xã hội, thì rõ ràng đã mở cửa cho thiên đường của các loại tội phạm.

Nhưng đối với những ai mà đang chia động từ “có”:
-         Haben,
-         To have,
-         Avoir
-         V.v…
Thì rõ ràng đây là một thảm họa, vì tôi không có một cái tôi thường hằng, chữ ký của tôi không được công nhận trong ngân hàng để giao dịch, và nó cũng vô giá trị trong các khế ước để kinh doanh với các đối tác… Có lẽ còn nhiều hệ quả khác trong các hoạt động xã hội. Đối với người đang yêu, em e ngại là còn tệ hại hơn nữa. Chúng ta nghĩ sao khi yêu phải một “thây ma” tình yêu (cadavre), vì nó vô hồn! Trong các cuộc thi hoa hậu - từ quốc gia cho đến tầm vóc quốc tế, đều phải chú thích để mọi người hiểu rõ, đây là một cuộc thi “thây ma hoa hậu” hay một con người hoàn chỉnh. Những tác phẩm văn chương, hội họa, nụ cười bí hiểm của một bức tranh mà ai cũng biết… thì chỉ còn là phức hợp của thần kinh. Đó là sự biểu hiện (manifestation) của bản năng gốc chưa được thuần hóa, dung hòa với siêu ngã.

HHN says:

Em ạ! Căn cứ vào lịch sử, thì tôn giáo thường xuyên có khuynh hướng muốn lấn sân thế quyền. Tôn giáo nào cũng vậy, khi tập hợp được một số tín đồ khá đông đảo, đều muốn tổng hợp cả thế quyền lẫn thần quyền. Mật giáo Tây Tạng là một trường hợp điển hình. Cơ Đốc giáo trong quá khứ, kéo dài khoảng 13 thế kỷ, tự cho mình có địa vị là cái gạch nối của thế quyền và đấng siêu nhiên. Thực tế nhất ngày hôm nay, Hồi giáo lại một lần nữa có những hành động nói lên hiện tượng này. Không ít lần những vị lãnh đạo của trường phái này muốn toàn thể thế giới vâng phục thế lực thần quyền của mình. Vì những lý do vừa kể trên, nên ít nhiều các tôn giáo cũng lây bệnh “phù thủy ngôn ngữ của chính trị”. Trong lĩnh vực chính trị, thì những loại từ ngữ này nhiều vô số kể. Chị xin kể một trường hợp điển hình ở tại Việt Nam trong thế kỷ trước. Nữ chính trị gia này đã sử dụng từ “Barbecue” trong câu nói: “Hãy chấm dứt trò chơi Barbecue… các…”. Chính vì từ “barbecue” này mà bà bị hạ bệ. Từ Barbecue này ngày nay được dùng tràn lan trong các tiệm ăn hay ở những nhà hàng sang trọng mà có món nướng. Vâng, ngày hôm nay chúng ta đi tiệm ăn với món ăn “Barbecue”. Đó chính là món thịt nướng của người Việt. Có người bình luận, cho là, việc sử dụng từ ngữ có lẽ thiếu thận trọng này, đã đưa đến sự sụp đổ của một chế độ. Trong thời gian chiến tranh lạnh, để hạ thấp uy tín của đối phương: Đối phương được mô tả là “ Con cọp giấy”; “ông già ốm yếu”; hay “ngày tận thế của chủ nghĩa”. Tuy nhiên, lại có người phản ứng lại là: “Con cọp giấy nhưng trang bị những chiếc răng nguyên tử”. Hay sự phản biện một cách  hùng hồn là: “Đúng thực là một  ông già ốm yếu, nhưng có khả năng để thực hiện những điều mình mong muốn”. Hoặc “Ngày tận thế còn phải đợi đến nhiều kiếp.”

Có lẽ một số tôn giáo đã chính trị hóa những từ ngữ để gây sự chú ý.

Chị có thể khẳng định với em một điều: em cứ yên tâm mà sống với cái linh hồn và cái ngã vốn có và thường hằng của em. Chứng minh nhân dân mà chính quyền cấp cho em, hoàn toàn có hiệu lực về mặt pháp lý. Thực tế này hình như phản ảnh về mặt xã hội cũng như chính trị, người ta công nhận tính chất thường hằng linh hồn mà em có.

Sao Mai says:

          Chị confirm khẳng định điều này làm cho em rất yên tâm! Trước nay em cứ lo rằng, quan điểm này mà được quốc hội phê chuẩn, thì quả thật là chết dở! Em xin vote bầu cho chị một phiếu.

HHN says:

          Sao Mai à! Vấn đề linh hồn mà em nêu ra trong bài viết này, nó xưa như trái đất, em ạ! Đúng vậy, có một tác giả người Pháp đã nói một câu sau đây “Nous arrivons dans  un  monde trop vieux - mọi việc người ta đã nghĩ, mọi việc người ta đã làm” (Chúng ta tới một trái đất đã quá già nua, mọi việc người ta đã nghĩ, mọi việc người ta đã làm).

Em nhớ lại thuở mình còn đi học. Lúc đó em là học sinh, sinh viên. Chúng ta sợ nhất đề tài triết học nói về: Tôi là ai? Tôi từ đâu tới? Đến đây để làm gì? Đi về đâu?...Bài học này rất dài trong bộ môn siêu hình học (Metaphysique). Mặt khác, nó lại có quá nhiều lý thuyết trái chiều nhau, do đó rất khó nhớ. Tên các triết gia lại bằng tiếng Đức, tiếng Pháp, tiếng Anh…Do đó, chúng ta thường né tránh đề tài này trong lúc thi cử.

Đến ngày hôm nay bước ra cuộc sống, đúng là “Oan gia ngõ hẹp” vẫn gặp lại nhau, hay nói một cách khác “ Người khách không mời mà đến”…

Sao Mai says:

          Theo như sự trình bày của chị, thì em thấy đề tài này khó thật! Mình có cách nào tìm ra đáp án cho bài toán khó giải này không? Em cũng biết, trong bản thân trường phái Phật giáo (tạm cho là Phật giáo nguyên thủy), từ thuở bình minh của tôn giáo này, hình như đã có những quan điểm trái ngược. Không ngờ là đến thế kỷ 21 này, vấn đề cái tôi lại được mang ra làm nóng lại.

HHN says:

          Em ạ, chúng ta đang ở thế kỷ 21, có một tiến bộ đáng ghi nhớ của khoa học mà mong em đặc biệt quan tâm là: “chúng ta biết là chúng ta không biết”. Trong rất nhiều lĩnh vực, các chuyên gia đều tuyên bố dựa trên mệnh đề nói trên. Do đó, để tránh chìm đắm trong các học thuyết, mang đầy rẫy những tranh luận qua quá trình lịch sử, chúng ta buộc lòng phải nêu lên một số chủ thuyết mang tính chất điển hình của trường phái mình. Tuy nhiên, rất có thể em cũng như quí độc giả, quan tâm nhiều nhất đến khía cạnh thực tế. Do đó, chị xin trình bày vấn đề này qua thực tế trước khi trình bày một số chủ thuyết.

Em cũng xin thưa cùng quí độc giả, mong quí độc giả sẽ rộng lượng tha thứ những điều em sẽ trình bày. Một thực tế mà em sẽ đề cập tới rõ ràng là một thách thức cho ai đó không có một kinh nghiệm xuất hồn trong lúc thiền định. Từ ngữ em sử dụng có thể là sai, vì chưa được mặc định. Tuy nhiên, hiện tượng có một cái gì đó bỏ thân xác vật lý (Physical body) ra đi, có thể là một hiện tượng đáng quan tâm. Dường như hiện tượng này, đã được ngài Sakya Muni (Thích Ca Mâu Ni) thực hiện trong quá khứ.



Thực tế mà nói, vô tình hay hữu ý, người thực sự chứng thiền định ở bất cứ trường phái nào, đều thấy mình hiện hữu ngoài thân xác vật lý. Nhưng làm sao để thực hiện thao tác xảy ra một cách ngẩu nhiên này, thì không có tài liệu nào hay thầy nào giải thích được! Có lẽ đây là bài toán không có đáp án đã kéo dài nhiều chục thế kỷ cho những người tu thiền định nói chung. Chúng ta nhắc lại vấn đề này vì khi thực hành thiền định ở một mô hình nào đó, bỗng nhiên thấy mình hiện hữu ngoài thân xác vật lý.

 Ở Việt Nam có trường phái xuất hồn, mà phải nói là có nhiều trường phái xuất hồn; nhưng có xuất được hồn hay không thì không ai biết.

Có lẽ tài liệu duy nhất “You For Ever”, do một vong linh - được giả thuyết là một vị Lạt Ma - nhập vào thân xác của một người Anh tên là Hoskin, có dạy về việc xuất hồn ( Astral travel). Thật sự một người thiếu kinh nghiệm về tiến trình tu thiền định thì thấy những thông tin này rất thuyết phục, phải nói là “Nói như thật!”. Em được biết dường như tài liệu này có được dịch ra tiếng Việt, quý vị có thể tìm tham khảo. Việc mô tả các diễn tiến của tiến trình xuất hồn này giống như một cuốn video clip của một máy bay rời mặt đất. Nếu em không lầm thì nhiều thập niên trôi qua, có rất nhiều người đã căn cứ vào tài liệu này để tập, và hình như kết quả là tiêu cực. Lúc đầu em thấy văn phòng Đại Lạt Ma từ chối công nhận tác phẩm này. Theo ý kiến chủ quan của em thì đó là một biện pháp ứng xử quá hay! Nhưng thời gian trôi qua, em thấy dường như văn phòng Đại Lạt Ma hình như đã làm một việc đúng.

Em xin nêu những nét cơ bản của cách tập này là: “Practice, Practice, Practice - Thực tập, thực tập, thực tập….Mình tập trung tư tưởng, chú tâm mạnh mẽ và  nghĩ là: có một cái gì đó đi ra khỏi thân xác vật lý…”. Dù khiêm tốn cho lắm, em cũng phải xin thưa cùng quí độc giả rằng: đây là một lời phát biểu, một công thức, một sự sai lầm chết người đã làm cho bao nhiêu người trên thế giới sai lầm. Em xin phép quí độc giả sửa lại câu này: “ Tôi thấy tôi, hiện hữu ở ngoài thân xác vật lý của chính mình, có khả năng nhìn thấy thân xác vật lý của chính mình”. Nói một cách khác, nếu không thừa nhận có một cái tôi, thì chúng ta không thể xuất hồn được. Ai cũng mong muốn mình tự làm chủ được mình (Maitre de soi meme), chọn được con đường mình đi theo ý muốn, nói lời chia tay với thần chết.

Mặt khác, với những mô tả của tác giả trong tác phẩm kể trên, và sự mô tả về việc xuất hồn của nhiều người ở Việt Nam nữa, thì em nghi ngờ rằng đó là sản phẩm của tưởng tượng.

Khi chúng ta chuyển đổi chiều không gian, hay nói theo khoa học, gọi là khung tham khảo ( Frame of reference), thì thế giới khách quan không xuất hiện theo lối xuất hiện ở thế giới vật chất mà chúng ta đang sống. Nó không có tính chất liên tục và đều đặn. Có thể chính vì lý do này mà chúng ta không bao giờ thấy các hồn ma hiện hữu lâu dài, lúc ẩn, lúc hiện… Còn có thể có rất nhiều định luật ở những cảnh giới khác hay khung tham khảo khác, mà chúng ta chưa có kinh nghiệm.

Sao Mai says:

Chính những điều chị vừa trình bày xong làm cho em rất ngạc nhiên! Em nói không biết có đúng hay không, phải nói là có một không hai. Thế giới này quá rộng lớn, thế giới này không đến nỗi quá già nua. Còn có quá nhiều điều để nghĩ, còn có quá nhiều việc để làm.

Em hy vọng trong lần trao đổi tới sẽ được nghe chị trình bày những chủ thuyết liên quan đến vấn đề này, thí dụ như:

-         Chủ thuyết vô ngã
-         Chủ thuyết hữu ngã
-         Chủ thuyết có 3 cái ngã của phân tâm học
-         Vv…

Xin trân trọng kính chào toàn thể quí độc giả!


Sao Mai


Tái bút:

Chúng tôi rất mong được sự phản hồi và bình luận của quý vị! Nếu có sự góp ý về bài viết  thì càng làm cho chúng tôi hoàn thiện những bài viết sau này của mình. Nếu có sự phản biện  thì sẽ cho chúng ta có cơ hội trao đổi học hỏi lẫn nhau, và làm cho trang blog này thêm phong phú về nội dung.


Quý vị có thể đăng bình luận của mình bằng các thao tác như sau:


Chúng ta gõ nội dung bình luận vào ô có chữ: “Enter your comment”. Rồi kích chuột vào mũi tên ở ô “thiền định” tại dòng bên dưới. Chọn bằng cách kích chuột vào  hàng chữ : “Name/URL” ở gần cuối cùng, sau đó gõ tên của mình vào dòng hàng ô trống phía trên. Hàng ô trống phía dưới không cần viết. Sau đó kích vào ô mầu xanh bên dưới có chữ: "Publish" .  Như vậy là chúng ta đã đăng thành công bài bình luận.

Xin cảm ơn quý vị!

Wednesday, February 12, 2014





Sao Mai says:

Chị HHN à! Em thấy đầu đề của những bài viết của chị, tiếng Tây, tiếng Tàu rắc rối quá, người ta cho rằng nổ quá… Chị có thể giải thích tại sao?!

HHN says:

Nhận xét đó không phải là sai, mà có lẽ còn chính xác là đằng khác, mình cũng nên nổ một tí cho nó thời trang! Nếu nhìn ở một góc cạnh khác, có thể một số quí độc giả sẽ nhận thấy rằng, đây là những đề tài mang tính chuyên ngành có lẽ là cao. Do đó, chúng ta buộc lòng sử dụng những từ ngữ chuyên ngành, bằng những ngoại ngữ khá phổ thông, mặt khác nó còn mang dấu ấn nguồn gốc của từ ngữ. Vâng, mặc dù một số từ ngữ nói trên bằng tiếng Đức, nhưng phải bảo chính người Đức cũng mù tiếng Đức, vì từ ngữ này ở chuyên ngành có một ý nghĩa khác hẳn. Rất mong được quí độc giả lượng thứ, vì có dịch ra tiếng Việt cũng vô nghĩa.

Sao Mai says:

Em có thể thông cảm với những lời giải thích của chị, em nghĩ quí độc giả cũng sẵn lòng lượng thứ.

Chị HHN à, gần đây em có xem trên internet về tin tức quốc phòng thế giới…. Chính trong những trang web này lại có kèm những tin tức bằng hình ảnh của những cô gái Việt Nam khỏa thân 100%.... Em thấy chị có vẻ am tường về phân tâm học, em xin chị vui lòng giải thích…

HHN says:

Sao Mai à! Theo mình thì có hai giả thuyết để giải thích hiệu ứng này.

A.   Chắc em đọc kinh thánh còn nhớ, trong vườn địa đàng Eden có một con rắn rất đáng sợ, nó đã xúi giục người nữ ăn trái cấm. Người nữ ăn trái cấm này, còn đưa cho cả chồng mình ăn nữa. Từ đây, tổ tiên của loài người biết hổ thẹn về việc không mặc quần áo của mình và tìm lá để che thân. Em ạ, cái gì cũng có ngoại lệ, lúc này cũng có một số cô gái Việt Nam là người mẫu, siêu sao… có lẽ không hiểu con rắn nói gì vì con rắn nói bằng ngọai ngữ. Chính vì thế nên không hiểu  gì. Do đó, ngày hôm nay vẫn tiếp tục không mặc quần áo đưa lên trang web.

B.   Theo quan điểm sinh học. Hệ thần kinh của quí cô nương này (Neural system) khá đơn giản. Do đó, vai trò của vỏ não (Celebral cortex) có lẽ rất khiêm tốn. Chính vì lý do này mà bản năng bẩm sinh chiếm ưu thế.  Bản năng tình dục, cụ thể là Libido vượt ra khỏi sự kiểm soát của cái tôi (ego) và super-ego (I.D có thể hiểu là bản năng bẩm sinh, đi kèm với sự ra đời của một con người. Super-ego mang tính chất đạo đức – moralizing role. Ego: đóng vai trò tổ chức, thực hiện những điều mà I.D mong muốn và super-ego đòi hỏi. Chúng ta có thể hiểu super-ego là những gì ngược lại với những gì mà I.D mong muốn.)


Sao Mai says:

Chị HHN này,  có những hiện tượng tương tự về tâm lý, không những xảy ra cho người bình thường, mà người tu cũng không ngoại lệ. Thật vậy, là con người thì bản năng chẳng phân biệt ai với ai. Em nghĩ đó là một sự thật. Có lẽ vì biết điều này, các trường phái tôn giáo nói chung mới đưa ra các nội quy, các điều luật, các điều răn, giới cấm. Thực tế là những biện pháp để ngăn ngừa ( Mesure de Prevention), đúng hơn là ngăn chặn những bản năng vốn có của con người - mà người ta cho rằng thấp hèn, không trong sạch, bất thiện… là chướng ngại, rào cản trên bước đường tiến hóa.

Em thì hiểu biết khiêm tốn, giới hạn. Chị có nghĩ là những biện pháp nói trên có thể tạo ra trạng thái phản tác dụng, dồn nén…

Để mang tính chất khách quan cao, nôm na gọi là “nói có sách, mách có chứng”. Em thử liệt kê một số nội quy, điều luật, giới cấm, điều răn… của một số trường phái.

v    Giới luật Yoga gọi là Yama:
-         Không sát sinh
-         Không vọng tưởng
-         Không trộm cắp
-         Không tà dâm
-         Không tham
-         V.v…
Mục đích là hợp nhất với tự tại thiên.

v    Mệnh lệnh đạo đức của Cơ Đốc giáo, có nhiều bảng khác nhau:
-         không được giết người
-         Không được ngoại tình
-         Không được trộm cắp
-         Không được làm chứng gian hại người
-         Không được ham muốn: nhà, vợ, tôi tớ, nam, nữ… của người khác

v    Do thái giáo:
- Có 613 điều răn dạy cho nam, nữ, thầy tu. Dường như bây giờ còn 300 điều răn.

v    Đạo Hồi có 10 điều răn :
-         Chỉ tôn thờ một Thiên Chúa
-         Vinh danh, tôn trọng cha mẹ
-         Tôn trọng quyền người khác
-         Bố thí cho người nghèo.
-         Cấm giết người, ngoại trừ trường hợp đặc biệt
-         Cấm ngoại tình.
-         Bảo vệ, chu cấp trẻ em mồ côi
-         Công bằng với mọi người
-         Trong sạch tình cảm và tinh thần
-         Khiêm tốn

v    Đạo giáo ( đây là một trường phái rất cổ của Trung Quốc và cả nhân loại)

v  Đạo gia khí công chủ trương: Luyện tinh thành khí, luyện khí thành thần, thần hoàn hư không ( Vô cực).

v    Phật giáo
Rất mong quí độc giả tự tham khảo, vì quá dài không thể đăng tải toàn bộ.

Em cho là tất cả mọi người có thể đồng ý, bất cứ một tập thể nào cũng ít hay nhiều có những nội quy thành văn hay bất thành văn. Thí dụ như: luật bất thành văn tại Anh Quốc, hay một số quốc gia khác. Thậm chí một chung cư cao cấp ở Sài Gòn hay Hà Nội, một cao ốc cũng phải có nội quy. Lúc chúng ta đi học thì phải đứng lên để chào thầy cô, không được nói chuyện, không được copy,…

Tuy nhiên, khi nghiên cứu những bảng nội quy của các tôn giáo, chúng ta thấy có nhiều điểm tương đồng.

     1.    Chúng ta thấy phần nội quy đầu tiên của Cơ Đốc giáo và Hồi giáo có vẻ giống nhau - chỉ được tôn thờ vị giáo chủ. Việc tôn tờ này là duy nhất. Nếu việc này các tín đồ không thực hiện được, thì có một sự trừng trị - phải nói là vô cùng tàn ác. Nhiều tài liệu đã sử dụng từ ngữ này.

Mặt khác, thế quyền và thần quyền lẫn lộn. Ví dụ như một di tích mà còn tồn tại ở Campuchia như một kỳ quan, cũng là dấu ấn của việc trộn lẫn thế quyền và thần quyền của các vua chúa. Thật vậy, Cơ Đốc giáo đã thống trị bộ môn vật lý trong nhiều thế kỷ. Để thoát ra sự cai trị này, nhiều khoa học gia đã phải đánh đổi bằng sinh mạng của mình.

       2. Các điều luật nói trên dường như vi phạm một cách thô bạo đến những bản năng bẩm sinh, di truyền, mang tính chất tự động (automatic), không thể cưỡng lại được, không thể thay đổi được (unmodifiable) của con người.

 Xin chị HHN vui lòng giải thích vấn đề bản năng. Chị HHN à, phải chăng bản năng là “Kẻ nội thù” (The enemy within). Em nhớ đâu đó, trường phái Phật giáo có câu nói: “ Kẻ thù lớn nhất của cuộc đời là chính mình”.

HHN says:

          Theo mình nghĩ, phát biểu của tôn tử “Tri bỉ, tri kỷ. Bách chiến, bách thắng”. Nếu coi chính mình là một kẻ thù, thì việc muốn chiến thắng kẻ thù này cũng không thoát ra khỏi ngoại lệ. Đó là phải biết mình, biết người. Chị đã từng đóng góp cho những bài viết trước rồi. Những vị soạn thảo ra những nội quy, điều luật… cho các trường phái tôn giáo, thì đã sống cách đây quá lâu, có thể 3 - 4 ngàn năm, ít lắm cũng 1 ngàn năm. Tâm lý học chỉ mới có cách đây vài trăm năm. Từ ngữ bản năng, lần đầu tiên được sử dụng trong tâm lý học vào năm 1870. Như vậy rõ ràng là những Vị hoạch định ra cái gọi là những bộ luật cho tôn giáo, thì chắn chắc không có một kiến thức gì về tâm lý học cả.

Trước khi lý thuyết của Sigmund Freud ra đời, thì cũng có những nhà tiên phong trong bộ môn này, thí dụ như: Jean Henri Fabre, Wilhelm Wundt, một người đại diện cho sinh học; một người đại diện cho tâm lý học. Thật ra, bộ môn này liên quan tới rất nhiều bộ môn khác: Sexology, Sexologist (chúng ta phải phân biệt hai bộ môn này là: tình dục học và tính dục học. Hai bộ môn này hoàn toàn khác nhau). Còn phải kể tới bộ môn Sex education…. Tuy nhiên, ở đây chúng ta chỉ xét đến một góc cạnh là vấn đề bản năng. Tại sao lại vậy?

Kính thưa quí độc giả!

Theo quan điểm của tâm lý học ngày nay, thì nó là hạ tầng cơ sở quan trọng nhất của bộ máy tâm lý con người (psychic apparatus). Người ta cho rằng, bộ máy này hoạt động là của tinh thần, hình như độc lập không liên quan gì đến não bộ (?!) (functions of the mind rather than parts of the brain). Mặt khác, chúng ta phải kể tới rất nhiều bộ môn khoa học khác đề cập tới vấn đề này:

1.    Behavioral sciences
2.    Reflexes and instinct
3.    Maturational instincts
V.v…

Nếu nhìn ở góc cạnh số lượng, lúc đầu các chuyên gia thống kê đến 4000 bản năng (đây là một số lượng ít ai có thể ngờ). Tuy nhiên, khi các công cuộc khảo cứu trở nên nghiêm túc hơn và từ ngữ được định nghĩa một cách tốt hơn, thì từ ngữ bản năng được từ từ hạn chế dần. Trong những thập niên 1960 – 1970, người ta thường tranh luận về số lượng bản năng và thế nào là bản năng hay cách ứng xử con người. Dường như cuối cùng, Sigmund Freud, được người ta quan tâm tới nhất - với bản năng I.D. Để làm sáng tỏ vấn đề, chúng tôi xin phép giải thích từ ngữ này ngay lập tức. Vì nếu không hiểu rõ từ ngữ này, thì khi chúng ta đọc những phần tiếp theo, sẽ trở nên một thách thức vô cùng khó khăn. Từ ngữ I.D bắt nguồn từ tiếng Đức là Es, nó là những bộ phận vô tổ chức của cấu tạo cá tính con người. Nó mang tính chất nền móng của nhân loại, là sự thúc giục mang tính chất bản năng. I.D là yếu tố duy nhất đã cấu tạo nên cá tính con người từ khi mới sinh ra. Nó là nguồn gốc của những nhu cầu của cơ thể vật lý, là sự khát vọng, hay những sự thúc giục. Đặc biệt nhất phải quan tâm tới tính chất tình dục và hiếu chiến của bản năng. I.D chứa đựng một cách bẩm sinh Libido (năng lượng của tình dục). I.D hành động tuân theo nguyên tắc khoái cảm (pleasure principle).Nó luôn luôn tránh né khổ đau và những điều không thích thú. Tinh thần chúng ta luôn luôn bị hướng dẫn bởi I.D.

Nói một cách khác, theo Freud, I.D mang tính chất vô thức. Nó ở trong bóng tối, chúng ta không thể vươn tới nó.

Với những đặc tính nói trên, thì em bé mới sinh ra đời, hoàn toàn bị I.D hướng dẫn. Do đó, khi em bé có một nhu cầu nào đó, thì phải được giải quyết ngay lập tức, nếu không em bé sẽ khóc để đòi hỏi hay phản đối.

Đứng về mặt đạo đức, I.D không phân biệt thiện, ác. Nói một cách khác, đạo đức không hiện hữu, nó chỉ tìm cách làm sao để thỏa mãn những nhu cầu.

Sao Mai says:

          Em xin cám ơn chị HHN! Em hiểu chị mới chỉ trình bày một phần nào, có lẽ là vô cùng nhỏ bé bộ mặt của “The enemy within”. Ít nhất đến bây giờ em hiểu được một phần nào của câu nói lừng danh: “Kẻ thù lớn nhất trong cuộc đời là chính mình”. Đúng vậy, chị ạ! Những bản năng cơ bản, có lẽ chính là kẻ thù truyền kiếp của con người, nếu xét ở góc cạnh tiến hóa. Em có một so sánh không biết có đúng hay không. Các bản năng cơ bản, có lẽ ít nhiều tương ứng với những bất thiện tâm. Em thử đưa ra một so sánh, chị nghĩ sao:

Căn cứ vào Vi Diệu Pháp, thì ở các cảnh giới càng thấp, tỉ lệ bất thiện tâm càng cao. Một khi tiến lên những cảnh giới cao hơn, tỉ lệ các bất thiện tâm giảm đi dần dần. Cụ thể là, bản tánh “sắc” là một tính chất vật chất để phân biệt giống đực và giống cái. Nó phai lợt đi từ từ ở cảnh thiên dục giới, đến chấm dứt hoàn toàn ở cảnh sơ thiền hữu sắc.

Căn cứ vào thuyết sinh học, thì cứ sinh vật nào hệ thống thần kinh phát triển, như con người chẳng hạn, thì tính chất của bản năng ảnh hưởng có giới hạn. Nhưng nếu hệ thống thần kinh quá đơn giản, thì những bản năng cơ bản lấn át. Thật vậy, ở một số sinh vật hạ đẳng, việc quan hệ tình dục có lẽ chỉ mang tính chất thuần túy vật chất. Nhưng ở con người có hệ thống thần kinh phát triển hơn, thì còn kèm yếu tố tình cảm, một yếu tố tâm lý không kém phần quan trọng.

Từ đây, chúng ta có thể suy ra, trước khi tiến hóa lên một đẳng cấp cao hơn con người, thì việc chống lại bản năng và những phản xạ tự nhiên sẵn có, có lẽ không phải là một việc làm dễ chịu.

HHN says:

Đúng đấy, Sao Mai ạ! Có người nói: “Thiếu sót lớn nhất trong đời là thiếu hiểu biết”,  “ Tài sản lớn nhất trong đời là sự hiểu biết và sức khỏe”. Trong khoa học thường nói: “Ngoài tính chất thực dụng của sự hiểu biết, hiểu biết còn là một thú vui”.
Có lẽ tu mà mù kinh, mù khoa học … cũng là một trở ngại trên con đường tiến hóa.

Sao Mai says:

          Em xin cám ơn chị với những sự trao đổi ngày hôm nay! Dường như bộ môn khoa học nào cũng phải đi qua những cơn khủng hoảng, mà còn nhiều cuộc khủng hoảng thì đúng hơn. Trong ngành hóa học, thì đi  từ việc luyện kim chuyển qua việc nghiên cứu và phát hiên các yếu tố hóa học và bản chất của nó không phải là việc dễ dàng. Từ bỏ được lý thuyết địa tâm cũng phải trả giá rất đắt. Có lẽ bộ môn tu thiền định cũng phải đi qua những cơn khủng hoảng cần phải có. Chẳng có bộ môn khoa học nào trưởng thành mà lại không trải qua những cơn đau đẻ khó khăn. Có lẽ bộ môn thiền định cũng không loại trừ. Chúng ta hãy đợi và xem.

Em xin trân trọng kính chào toàn thể quí độc giả!

Những bài viết này chỉ là sản phẩm của trí tưởng tượng. Vì không được một cơ quan hữu trách nào xét duyệt, nên không có giá trị về khoa học xét ở bất cứ bình diện nào.

Sao Mai!



Sunday, February 9, 2014





Sao Mai says:

Ủa! Trong việc tu hành nói chung, tu thiền nói riêng, mà cũng có nhiệm vụ bất khả thi hả?! Tu là tâm hồn thanh thoát, việc đời đã khép lại “ Thân nhẹ nhàng như mây”! Tu là đào thoát ra khỏi thị phi, toan tính, phiền não, thăng trầm… của cuộc đời mà. Sao lại có hiện tượng bất khả thi?

HHN says:

Có lẽ, đại đa số người đời đều nghĩ như vậy cả, “những muộn phiền từ nay khép lại”, tu là cõi phúc, tình là giây oan…mượn thú tiêu giao cửa Phật. Lý thuyết là như vậy đó. Sao Mai à! Thực tế có lẽ không tương thích với lý thuyết đâu. Nếu chỉ là công việc: mang tiền, mang của…đến biếu một cơ sở tôn giáo nào đó, thì có lẽ, chẳng có gì để mà nói cả, mà cũng chẳng có gì để chúng ta hiểu cả. Nếu chúng ta tham dự thực sự vào một việc kinh doanh của một cơ sở tôn giáo nào đó, thí dụ như một công ty phát hành kinh ở dạng sách và đĩa… thì có lẽ tình hình lại khác hẳn. Tôi được biết có một trường hợp nêu sau: Có hai vợ chồng kia, người chồng trước làm tài xế cho một công ty dầu nhớt nước ngoài, sau khi nghỉ công ty này, được giới thiệu vào lái xe cho một vị đứng đầu một cơ sở tôn giáo, cơ sở tôn giáo này có một cơ sở là một công ty in ấn băng  đĩa, tài liệu kinh sách vv… Cô vợ của người tài xế nói trên  giúp việc cho công ty vừa kể. Do sự bất hòa giữa hai vợ chồng, cô vợ tố cáo gì đó với cô tu sĩ là giám đốc của công  ty in băng đĩa. Sau đó cô tu sĩ này trao đổi với người đứng đầu cơ sở tôn giáo, anh chồng tài xế đã bị đuổi việc.

          Nói tóm lại, người bình dân thường nói “ Thức khuya mới biết đêm dài….” Hoặc “Nằm trong chăn mới biết…”

Sao Mai says:

          Chị HHN à! Qua câu chuyện chị vừa kể, làm em bỗng nhớ ra, một số thông tin trên trang web của tổ chức thông tin VOA hay ABC gì đó… em không nhớ rõ. Khi đọc hai thông tin nói trên, làm cho em rất bối rối! Em tự hỏi: phải chăng người ta đã đưa ra những thông tin tiêu cực? Nhưng em lại nghĩ, những tổ chức thông tin nói trên, hình như có một ảnh hưởng lớn trên thế giới, không phải họ muốn đưa thông tin gì thì đưa, có lẽ ít nhiều cũng phải đáng quan tâm.

HHN says:

          Hai thông tin gì mà em có vẻ âu lo, buồn phiền như vậy? Mặt khác, lại phải cẩn thận, rào trước, đón sau.

Sao Mai says:

          Đúng vậy, chị HHN! Để duy trì tính chất khách quan cao, nhưng cũng không làm mất thời gian của chị HHN cũng như quí độc giả, em xin tóm tắt  hai thông tin nói trên, em xin lỗi trước nếu có gì sai sót, vì hiểu biết của em chỉ có giới hạn.

Bản tin số 1: Ủy ban LHQ lên án Giáo hội Công giáo về các vụ lạm dụng tình dục trẻ em

- Ủy ban LHQ về quyền trẻ em lên án gay gắt tòa thánh Vatican vì không thừa nhận mức độ tội ác mà các linh mục đã phạm khi lạm dụng tình dục hàng chục ngàn trẻ em.

- Chủ tịch Ủy ban Liên Hiệp Quốc Tế về quyền trẻ em, bà Kirsten Sandberg, quan ngại về những kẻ phạm tội trốn tránh công lý.

- Vì bảo toàn thanh danh giáo hội, bênh vực kẻ phạm tội lên trên lợi ích của trẻ em. Cách giải quyết là, được thuyên chuyển từ nơi này qua nơi khác khi phạm tội.

- Ủy ban chỉ trích luật im lặng do tòa thánh áp đặt.

- Tòa thánh đứng trước những cáo buộc này cho là: Một mưu toan của ủy ban can thiệp vào  giáo hội, quyền tự do tôn giáo.

Bản tin số 2: LHQ kêu gọi Vatican bãi chức các linh mục bị cáo buộc tội lạm dụng tình dục trẻ em. 

- Ủy ban về quyền trẻ em của LHQ kêu gọi Vatican lập tức bãi chức các linh mục khi bị cáo là lạm dụng trẻ em, giao cho các giới hữu  trách dân sự.

- Người ta cho là có hàng ngàn trẻ em bị lạm dụng.

- Có khoảng 4000 vụ đang bị công vụ chú ý.

- Đức giáo hoàng Benedict đã bắt hàng trăm linh mục hoàn tục vì việc lạm dụng tình dục.

- Người ta cho là: Không có gì thay đổi thực sự.

- Cách đáp ứng của Vatican thật đáng thất vọng.

HHN says:

Sự thật, đây không phải là lần đầu tiên các cơ quan truyền thông trên thế giới đăng tải những bản tin có nội dung tương tự. Nếu người ta còn nhớ, trường phái Phật giáo ở Thái Lan cũng có một cơ sở tôn giáo, được đề cập đến với nội dung tương tự. Ở Ấn Độ, cũng có những vị gọi là đạo cao đức trọng, cũng ở trong trường hợp tương tự. Nếu nhìn vào sự việc này, cụ thể là, hiện tượng này xảy ra ở nhiều nơi, nhiều lúc và có mối liên hệ giống nhau, thì rõ ràng đây là một hiện tượng khoa học. Nói một cách khác, khoa học hiện đại cần phải có tiếng nói để thuyết minh, làm sáng tỏ một hiện tượng tự nhiên và tìm ra biện pháp giải quyết từ gốc rễ. Có lẽ không thực tế nếu chỉ chỉ trích, mặt khác còn thiếu khách quan để công nhận những hiện tượng tự nhiên.

Sao Mai says:

          Theo hiểu biết hạn chế, giới hạn của em, thì phản ứng của tổ chức tôn giáo lớn nhất thế giới này, có lẽ làm thất vọng nhiều người, xét ở bất cứ bình diện nào. Chị HHN à! Trước tình hình này, nếu mình ở địa vị Vatican, thì mình nên làm gì nhỉ?. Theo thiển ý của em, hiện tượng này có lẽ đã tồn tại lâu lắm rồi, cùng với lịch sử phát triển của các trường phái tôn giáo, chứ chẳng cứ gì trường phái Cơ Đốc giáo.  Nếu chỉ sử dụng những biện pháp, mà y khoa gọi là chữa triệu chứng, nói theo ngày hôm nay là biện pháp tình thế, cụ thể là thuyên chuyển những người nói trên từ giáo phận này qua giáo phận khác, kể cả việc chấp hành đưa qua cơ quan hữu trách dân sự, thì em thiết nghĩ cũng chẳng giải quyết được gì. Dù biện minh thế nào đi nữa, thì ai cũng biết: không thể có cái gì cao hơn sự thật.        

          Nếu mình có một kiến thức nền móng cơ bản, nói tóm lại là hiểu rõ vấn đề, thì mới hy vọng giải quyết từ bản chất. Không biết bộ môn phân tâm học bảo là bản năng là nền móng của cấu tạo tâm lý con người có đúng không? Phải chăng chúng ta đã vô tình hay cố ý vi phạm vào những bản năng cơ bản của con người, cuối cùng tự đưa mình  vào thế bí.

HHN says:

Những thông tin có nội dung tương tự được nêu ở trên, chỉ là cái nhìn nhỏ bé của một bức tranh tổng thể. Nếu chúng ta quan sát các tôn giáo lớn ở trên thế giới, tất nhiên từ tôn giáo lớn ở đây là căn cứ vào số lượng tín đồ của một số tôn giáo như:

-         Công giáo
-         Hồi giáo
-         Ấn Độ giáo
-         Phật giáo
-         V.v…

Thì từ lý thuyết cho đến thực hành, tuy biểu hiện có khác nhau, nhưng có lẽ có cùng nội dung, xét ở góc cạnh gọi là nội quy hay giới luật…. Thật vậy, nếu quan sát kỹ lưỡng và đối chiếu từng điều luật một, chúng ta tìm ra mối quan hệ tương tự giữa các tôn giáo với nhau. Điều đáng quan ngại nhất là những điều luật, nội quy này  phải bảo là thực sự vi phạm vào những bản năng cơ bản của con người, đó là hai bản năng kể sau:

-         Bản năng cái tôi
-         Bản năng tình dục.

Bản năng cơ bản nhất của con người như vừa được kể ở trên, được bộ môn phân tâm học coi như là hạ tầng cơ sở của tòa  kiến trúc phân tâm học.

Người ta có thể đưa ra một giả thuyết như sau: Cơ Đốc giáo thì đã được khai sinh ra cách đây trên 2000 năm, Hồi giáo được khai sinh vào thế kỷ thứ 7, Ấn Độ giáo thì đã có mấy ngàn năm tuổi, Phật giáo đã có trên 2000 năm,v.v…

          Điều này có thể đưa đến cho chúng ta một nhận xét, những người hoạch định ra những luật lệ cho tôn giáo của mình, tất nhiên là hoàn toàn không có kiến thức gì về: sinh học hiện đại, tâm lý học, phân tâm học, xã hội học… và còn nhiều bộ môn khác nữa. Rõ ràng là, việc thiếu những kiến thức của khoa học đã đưa đến việc xây dựng những luật lệ, những nội quy, những giới luật… phải nói là đi ngược hẳn lại với bản năng nền móng của con người.

          Khổ hạnh là một lối tu rất phổ biến ở các tôn giáo, người ta cảm thấy hạnh phúc, khoái lạc… khi thực hành lối tu khổ hạnh. Người ta cho rằng, cách tập luyện này làm cho mình đến gần với đấng siêu nhiên. Phân tâm học giải thích vấn đề này khá đơn giản. Sự thật đây chỉ là sự biến thể của bản năng tình dục, bản năng tình dục có thể xuất hiện ở dạng chủ động (actif) hay thụ động (passif); tích cực hay tiêu cực. Có những người thích khỏa thân (exhibitionnistes) và có những người thích xem khỏa thân (voyeurs). Bản năng tính dục có thể ở trạng thái Sadisme hoặc Masochisme. Hai từ ngữ này chẳng lạ lùng gì với những người phải học về bộ môn phân tâm học. Lối hành hạ bản thân trong các trường phái tôn giáo, là sự biểu hiện của trạng thái Masochisme. Và tự làm khổ mình để làm khổ người khác là Sadisme.

Sao Mai says:

            Chị nói rất đúng, chính tôi đã chứng kiến, tôi đã gặp những người như thế này. Tôi được biết một trường hợp sau đây: Có một chị việt kiều ở bên Mỹ, quốc tịch Mỹ, chồng chị là một luật sư gốc Do Thái, phải bảo là khá giàu có. Chị đó trở về Việt Nam, sống ở một cái Cốc vô cùng thiếu thốn phương tiện. Nhưng chị ấy lấy làm thích thú vì lối sống như thế, luôn luôn tìm cách đầy đọa thân thể mình và cảm thấy đó là thú vui. Câu chuyện sau đây, còn tiến thêm lên một mức cao mới. Có một người phụ nữ, được mô tả là khá đẹp, cũng tự tàn phá sắc đẹp của mình, bằng cách tự nhổ răng của mình đi…Cụ thể là cố làm cho mình xấu đi, người ta thường gọi là hành thân, hoại xác.

Chị HHN à! Chúng ta quay về đề tài lúc đầu, về vấn đề LHQ hiện đang quan tâm. Chị có cách nào để giải thích vấn đề này?

HHN says:

          Vâng, bộ môn phân tâm học, hoàn toàn có khả năng giải thích vấn đề này. Tuy nhiên nếu chúng ta muốn hiểu, mong Sao Mai cũng như quí độc giả vui lòng kiên nhẫn, vì tiến trình để đưa đến hiện tượng này khá phức tạp, rắc rối, cũng phải nói là tương đối khá khó hiểu.

Bản năng cái tôi (Ego) là gì? Đó là những sự thôi thúc (stimulus) tự nhiên, bẩm sinh, quyết liệt, dai dẳng (durable) để tự bảo vệ một cá thể nào đó. Khi bản năng cái tôi này nhận thấy bản năng tình dục trỗi dậy, có ý định thỏa mãn nhu cầu của mình. Nhưng việc thỏa mãn nhu cầu của bản năng tình dục, có thể đe dọa, hoặc thực sự đe dọa đến mục tiêu hướng tới của cá thể nào đó, thì nó tìm cách ngăn chặn bản năng tình dục. Nói tóm lại, việc thỏa mãn bản năng tình dục, không quan trọng bằng việc tồn tại sống còn, hay cái đích tinh thần hướng tới của một cá thể. Ở tình trạng này, cá thể tìm cách ép mình để sống trong vương quốc của lý trí.

          Chính tiến trình khá bí ẩn, phức tạp về tâm lý như thế này tạo nên việc các tôn giáo có khuynh hướng - từ công nhận chung chung, hạn chế, cho đến cấm đoán việc thỏa mãn bản năng tình dục.

          Nhưng việc ứng xử về bản năng tình dục như thế này, phải bảo là hoàn toàn không yên ổn. Đồng ý rằng việc tránh né đau khổ, còn quan trọng hơn là việc thỏa mãn khoái lạc. Nhưng việc vi phạm vào những bản năng, nhất là bản năng tình dục, thì hệ quả khó có thể lường trước được.

Chính vì lý do này, lý thuyết dồn nén đã được ra đời. Một khi các bản năng bị dồn nén, nói một cách khác là nó không được thỏa mãn - ở trong một chừng mực nào đó - đã tạo ra sự đau đớn về tinh thần và vật chất: cơ bắp bị căng thẳng, toát mồ hôi, tăng áp huyết…. Nói một cách khác, nó phải tìm một con đường để thoát ra. Những gì mà ý thức không chịu công nhận, thì buộc lòng nó phải trú ngụ trong khu vực vô ý thức. Chỉ cần một sự bất cẩn của ý thức (ý thức này giống như người cai tù, gác ngục), thì những gì dồn nén sẽ tìm cách thoát ra ngoài. Những hình thức phổ thông nhất là: thủ dâm (masturbation), khỏa thân, hãm hiếp…. Nói tóm lại, nó có thể xuất hiện bằng hình thức cực đoan, đôi khi vô cùng khủng khiếp ( prend une forme d’expression extrême, parfois terrifiante).

Sao Mai says:

          Nếu chúng ta công nhận bộ môn phân tâm học như một khoa học, thì có lẽ tốt nhất chúng ta nên chờ đợi, xem các chuyên gia về phân tâm học, sẽ giải quyết về vấn đề này ra sao.

Mặt khác, các trường phái tôn giáo cũng cần phải đặt ra vấn đề “ Chủ nghĩa xét lại”, nếu muốn còn tồn tại với lịch sử của nhân loại. Em cũng lấy làm lạ, ít có bệnh nan y nào lại kéo dài tới nhiều ngàn năm, mà không ai nghĩ đến cách để chữa trị. Em tự hỏi, hay là đầu óc mình có gì không được bình thường?

Nhưng một điều không thể phủ nhận được là, việc từ chối sự hiện diện của bản năng cái tôi và tình dục, rõ ràng là một nhiệm vụ bất khả thi.


Trân trọng kính chào toàn thể quí độc giả!

Rất mong được quí độc giả chia sẻ, đóng góp ý kiến và bình luận comment.

Sao Mai.